Di chúc là căn cứ pháp lý quan trọng để xác định ý chí của người để lại tài sản sau khi chết. Tuy nhiên, không phải mọi di chúc đều có giá trị pháp luật. Bài viết này sẽ làm rõ di chúc hợp pháp là gì và các điều kiện cần đáp ứng để di chúc được pháp luật công nhận, giúp người lập và người thừa kế tránh rủi ro tranh chấp.
Mục lục bài viết
1. Di chúc hợp pháp là gì?
Di chúc được hiểu là bằng chứng ghi lại ý chí, ý nguyện cuối cùng của một người, định đoạt tài sản của người đó sau khi chết cho người khác. Để có thể chia di sản thừa kế của người đó theo di chúc, thì di chúc đó phải hợp pháp và đáp ứng điều kiện có hiệu lực của di chúc.
- Theo đó, di chúc hợp pháp được hiểu là bản di chúc đáp ứng đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự Điều 117 và điều kiện để di chúc hợp pháp theo Điều 630 của Bộ luật Dân sự 2015.
- Di chúc có thể thể hiện dưới hai hình thức là di chúc bằng văn bản hoặc bằng lời nói “di chúc miệng”.
- Ngoài ra, khi công bố di chúc, thì nội dung của di chúc có thể có giá trị pháp lý hoàn toàn hoặc chỉ có hiệu lực một phần. Trong trường hợp này sẽ chia di sản theo phần nội dung hợp pháp. Những tài sản còn lại được chia thừa kế theo pháp luật.
- Đối với mỗi người việc lập di chúc nhằm thể hiện nguyện vọng của mình về việc phân chia di sản cho người mong muốn sau khi chết. Bên cạnh đó, dựa vào di chúc di sản được chia đúng đối tượng, góp phần hạn chế việc tranh chấp di sản thừa kế.
- Tuy nhiên, để thực hiện việc phân chia di sản thừa kế theo di chúc thì pháp luật quy định di chúc phải đảm bảo đầy đủ các điều kiện của di chúc hợp pháp.
Vì thế, người lập di chúc cần tuân thủ đầy đủ các quy định khi lập di chúc nhằm đảm bảo giá trị pháp lý, hiệu lực của di chúc khi mở thừa kế để di sản được chia theo đúng ý nguyện của mình.
2. Các đặc điểm của di chúc theo Bộ luật dân sự 2015:
Thứ nhất, Di chúc được biết đến và thành lập dựa trên ý chí đơn phương của cá nhân nên nó được hình thành duy nhất bằng ý chí đơn phương của người để lại thừa kế. Theo đó, người lập di chúc hoàn toàn bằng ý chí của mình quyết định lập di chúc nhằm chuyển giao một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình cho người đã được họ xác định trong di chúc mà không cần biết người đó có nhận di sản hay không, không có sự thoả thuận, cưỡng ép, hay đe dọa từ chủ thể khác.
Thứ hai, Di chúc trên cơ sở quy định của pháp luật dân sự được xác định là nhằm chuyển dịch di sản của người chết cho người khác đã được xác định trong di chúc. Quy định này là nội dung quan trọng không thể thiếu được của di chúc nếu muốn được coi là căn cứ để dịch chuyển tài sản của người chết cho người khác. Mặt khác, một người chỉ lập di chúc trong trường hợp họ có tài sản và muốn bằng ý chí của mình để định đoạt tài sản đó cho ai.
Thứ ba, Di chúc được thể hiện dưới hình thức xác định để có thể nhận biết được ý chí của người lập di chúc. Dựa trên quy định của Bộ luật này thì di chúc có thể được thành lập bằng hai hình thức đó là di chúc miệng và di chúc bằng văn bản nhưng cho dù cá nhân xác định thành lập di chúc theo hình thức nào thì cũng đều phải tuân thủ đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật để đảm bảo di chúc có hiệu lực pháp luật.
Thứ tư, Di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc huỷ bỏ bởi người lập di chúc. Trường hợp mà cá nhân thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, thay thế khi cá nhân lập di chúc thấy rằng nội dung di chúc đã lập không còn phù hợp, tài sản của người để lại di chúc có thay đổi,… Theo như quy định của pháp luật hiện hành thì người lập di chúc tự mình thực hiện việc sửa đổi, bổ sung, thay thế di chúc mới. Tuy nhiên, việc sửa đổi, bổ sung, thay thế hoặc huỷ bỏ di chúc của cá nhân lập di chúc phải thực hiện theo quy định của pháp luật để đảm bảo hiệu lực của di chúc.
Thứ năm, Di chúc chỉ có hiệu lực khi người để lập di chúc đã chết. Dựa theo quy định tại khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì di chúc có hiệu lực kể từ thời điểm mở thừa kế. Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chế. Như vậy, dù cho di chúc có đáp ứng đầy đủ các điều kiện về di chúc hợp pháp thì nó vẫn chưa có hiệu lực khi người lập di chúc còn sống, khi đó những người được hưởng thừa kế theo di chúc cũng không có quyền yêu cầu công nhận di chúc và thực hiện các quyền thừa kế theo nội dung di chúc.
3. Di chúc hợp pháp cần những điều kiện gì?
Để đảm bảo hiệu lực pháp luật khi mở thừa kế, di chúc phải đáp ứng đầy đủ các điều kiện về độ tuổi, sức khỏe, nội dung và hình thức, cụ thể như sau:
Về độ tuổi và sức khỏe
Người lập di chúc cần đảm bảo điều kiện về độ tuổi và sức khỏe khi thực hiện việc lập di chúc. Đây là những yếu tố cơ bản nhưng hết sức quan trọng nhằm xác định giá trị pháp lý của di chúc khi lập nên. Theo đó, người lập đi chúc cần đảm bảo:
- Là người đã thành niên thì sẽ có quyền lập di chúc không mắc các bệnh về thần kinh, không bị tâm thần, không tỉnh táo;
- Từ đủ 15 tuổi đến 18 tuổi muốn lập di chúc thì cần phải có sự đồng ý của cha mẹ hoặc là người giám hộ;
- Người lập di chúc phải trong tình trạng minh mẫn, làm chủ được bản thân. Người lập di chúc phải hoàn toàn tự nguyện, không bị cưỡng ép hoặc đe dọa;
- Nội dung của di chúc thì không bị trái pháp luật, đạo đức của xã hội;
Pháp luật thừa kế quy định đối tượng lập di chúc từ 15 tuổi trở lên. Quy định như vậy là vì theo pháp luật lao động Việt Nam thì công dân từ đủ 15 tuổi trở lên có thể tham gia quan hệ lao động. Khi đó, họ đã có khả năng nhận thức, làm chủ hành vi một cách tương đối, họ có thể có tài sản riêng, có ý chí riêng của mình nên họ hoàn toàn đủ điều kiện lập di chúc. Còn đối với trường hợp dưới 15 tuổi thì pháp luật không thừa nhận quyền lập di chúc của họ.
Người từ đủ 18 tuổi trở lên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự được toàn quyền lập di chúc. Người bị hạn chế về thể chất hoặc người không biết chữ phải được người làm chứng lập di chúc thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực. Người từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi phải lập di chúc bằng văn bản và được bố mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc. Trong khi lập di chúc, người lập di chúc phải còn minh mẫn, sáng suốt, không bị lừa dối, đe dọa hay cưỡng ép.
Về hình thức
Ngoài việc lập di chúc bằng văn bản pháp luật cũng chấp nhận di chúc bằng miệng. Tuy nhiên mỗi loại đều phải tuân thủ những hình thức của một di chúc.
* Đối với di chúc miệng
- Đây là trường hợp đặc biệt chỉ được lập trong tình trạng nguy kịch có thể ảnh hưởng đến tính mạng (nhưng đòi hỏi phải minh mẫn và hoàn toàn tự nguyện). Hoặc những trường hợp bệnh tật mà không thể lập di chúc bằng văn bản được.
- Nếu trong vòng 3 tháng sau mà người lập di chúc miệng còn sống khỏe mạnh thì di chúc miệng đó sẽ bị hủy bỏ.
- Khi thực hiện di chúc miệng thì phải có người làm chứng và sau đó phải viết lại bằng tay và những người làm chứng đó phải ký hoặc điểm chỉ trên trên di chúc. Kể sau đó 05 ngày thì bản di chúc đó phải được đi công chứng và xác thực thì di chúc miệng đó mới có hiệu lực.
* Đối với di chúc văn bản
- Di chúc văn bản không có người làm chứng: Thì người lập di chúc phải tự viết và ký vào di chúc.
- Di chúc văn bản có người làm chứng thì người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ trên bản di chúc trước mặt những người làm chứng. Những người làm chứng phải xác nhận chữ ký, điểm chỉ trên bản di chúc đó và cùng ký trên di chúc.
- Di chúc văn bản phải có công chức, chứng thực.
Về nội dung
- Ngày, tháng, năm lập di chúc.
- Họ tên, địa chỉ, của người lập di chúc.
- Các thông tin của người nhận di chúc như họ tên, địa chỉ,…
- Xác định rõ điều kiện để được nhận thừa kế
- Thể hiện rõ di sản để lại là những gì, nơi có di sản đó.
- Nội dung phải chỉ rõ ra quyền và nghĩa vụ của đối tượng nhận di chúc.
- Trong di chúc thì không được viết tắt, ký hiệu, các trang của phải được đánh số theo thứ tự. Và phải có chữ ký hoặc điểm chỉ của người lập di chúc.
Nếu người lập di chúc không thể tự mình viết được được thì có thể nhờ người khác viết dùm hoặc đánh máy. Nhưng phải có ít nhất là hai người làm chứng. Người lập di chúc phải ký hoặc điểm chỉ vào bản di chúc trước mặt những người làm chứng và những người làm chứng xác nhận chữ ký, điểm chỉ của người lập di chúc và ký vào bản di chúc.
Người lập di chúc có toàn quyền quyết định các nội dung của di chúc, phân chia tài sản cho ai, xử lý các quyền lợi, nghĩa vụ liên quan như thế nào đều được. Tuy nhiên, có một số điều nó là nguyên tắc chung của pháp luật, của xã hội thì họ phải tuân theo. Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Một số người thừa kế luôn được hưởng di sản thừa kế dù người lập di chúc có truất quyền thừa kế, hay cho thừa kế một phần quá ít di sản người đó để lại. (quy định tại Điều 644 về người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc BLDS 2015).
Có nhiều mẫu di chúc được soạn sẵn để thuận tiện hơn trong việc lập di chúc. Mặc dù có nhiều mẫu di chúc, nhưng một số nội dung chủ yếu của di chúc thì luôn phải có trong bản di chúc. Và theo BLDS 2015, về thừa kế theo di chúc thì bản di chúc chỉ cần một số phần chính theo quy định tại Điều 631 BLDS 2015 là đủ nội dung cần thiết.
Điều kiện người làm chứng
Việc lập di chúc có người làm chứng thì những người được phép làm chứng cho di chúc phải tuân thủ đúng quy định. Theo Điều 632 Bộ luật Dân sự 2015, mọi người đều có thể làm chứng cho việc lập di chúc trừ những người sau đây.
- Người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật của người lập di chúc.
- Người có quyền, nghĩa vụ tài sản liên quan tới nội dung di chúc.
- Người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Di chúc có công chứng, chứng thực
Di chúc được lập tại tổ chức hành nghề công chứng hoặc UBND xã, phường phải tuân thủ các điều kiện sau đây để đảm bảo tính hợp pháp của di chúc.
- Người lập di chúc phải tuyên bố nội dung di chúc trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền. Công chứng viên hoặc người có thẩm quyền sẽ ghi chép đầy đủ lại nội dung được công bố và chứng thực. Người lập di chúc ký hoặc điểm chỉ nếu bản di chúc đã đầy đủ và đúng nguyện vọng.
- Nếu người lập di chúc không đọc, không nghe, không điểm chỉ được thì phải có người làm chứng. Người này phải ký xác nhận trước mặt công chứng viên hoặc người có thẩm quyền.
Những điều kiện trên đây là yêu cầu bắt buộc nhằm đảm bảo tính hợp pháp để di sản được chia thừa kế theo di chúc, thực hiện đúng ý nguyện của người để lại di sản.
4. Hiệu lực pháp luật của di chúc:
- Di chúc có hiệu lực pháp luật từ thời điểm mở thừa kế.
- Di chúc không có hiệu lực pháp luật toàn bộ hoặc một phần trong các trường hợp sau đây:
- Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc;
- Cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế.
Trong trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập Di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực pháp luật.
- Di chúc không có hiệu lực pháp luật, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực.
- Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực pháp luật.
- Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực pháp luật.
Lưu ý: Đối với hiệu lực pháp luật của di chúc chung của vợ, chồng thì có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


