Vay tiền không trả, bỏ trốn có phải đi tù không?

Vay tiền rồi không trả, thậm chí rời khỏi nơi cư trú hoặc cắt đứt liên lạc, có thể làm phát sinh trách nhiệm dân sự hoặc trách nhiệm hình sự tùy mức độ vi phạm của hành vi. Vậy vay tiền không trả, bỏ trốn có phải đi tù không?

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: dichvu@luatduonggia.vn

1. Bản chất pháp lý chung của quan hệ vay tài sản:

Theo Điều 463 Bộ luật Dân sự 2015: Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Về nguyên tắc chung:

  • Việc không trả được nợ đúng hạn do khó khăn tài chính, làm ăn thua lỗ, chưa có khả năng thanh toán… thuần túy là tranh chấp dân sự;
  • Bên cho vay có quyền khởi kiện ra Tòa án nhân dân có thẩm quyền để yêu cầu buộc người vay trả lại tiền gốc, lãi suất (nếu có) và bồi thường thiệt hại (nếu có);
  • Tòa án không có thẩm quyền phạt tù trong vụ án dân sự. Tòa chỉ ban hành bản án/quyết định yêu cầu thực hiện nghĩa vụ trả tiền và chuyển cho Cơ quan Thi hành án dân sự cưỡng chế tài sản.

Như vậy: Không phải cứ vay tiền rồi không trả đúng hạn là bị phạt tù. Nếu nguyên nhân chỉ là khó khăn tài chính, mất khả năng thanh toán thì về nguyên tắc đây là quan hệ tranh chấp dân sự; bên cho vay có quyền khởi kiện để yêu cầu trả nợ theo quy định pháp luật. Chỉ khi có dấu hiệu của hành vi phạm tội thì mới có thể phát sinh trách nhiệm hình sự.

2. Vay tiền không trả, bỏ trốn có phải đi tù không?

Trong thực tiễn các giao dịch dân sự, việc vay mượn tài sản (tiền, vàng, tài sản khác) diễn ra phổ biến. Tuy nhiên, khi đến hạn trả nợ, không ít trường hợp người vay không thực hiện nghĩa vụ mà cố tình lẩn tránh, cắt đứt liên lạc hoặc bỏ trốn khỏi nơi cư trú. Vậy: Vay tiền không trả, bỏ trốn có phải đi tù không?

Hành vi vay tiền không trả sẽ chuyển từ giao dịch dân sự đơn thuần sang hình sự khi thỏa mãn các dấu hiệu cấu thành tội phạm theo quy định tại Bộ luật Hình sự 2015. Cụ thể, hành vi này thường bị xử lý về: Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175) hoặc Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174).

2.1. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015):

Đây là tội danh phổ biến nhất áp dụng đối với trường hợp vay tiền hợp pháp ban đầu nhưng sau đó bỏ trốn để không trả nợ.

Điều 175 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

“1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

  • Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;
  • Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

  • Có tổ chức;
  • Có tính chất chuyên nghiệp;
  • Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;
  • Dùng thủ đoạn xảo quyệt;
  • Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;
  • Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Các yếu tố cấu thành tội phạm của tội danh này bao gồm:

  • Giao dịch ban đầu hợp pháp: Việc vay tiền diễn ra trên cơ sở tự nguyện, không có hành vi gian dối ngay từ đầu;
  • Hành vi bỏ trốn: Sau khi nhận được tiền/tài sản, người vay cố tình cắt đứt liên lạc, chuyển đi nơi khác sống mà không thông báo, thay đổi số điện thoại, xóa tài khoản mạng xã hội… nhằm mục đích trốn tránh nghĩa vụ trả nợ và chiếm đoạt tiền;
  • Giá trị tài sản: Từ 4.000.000 đồng trở lên (hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng thuộc trường hợp tái phạm/đã bị xử phạt hành chính theo quy định).
Xem thêm:  Dịch vụ đòi nợ thuê, mua bán nợ có bị cấm không?

Mức hình phạt đối với Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

  • Khung 1: Cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;
  • Khung 2 (Chiếm đoạt từ 50 triệu đến dưới 200 triệu): Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;
  • Khung 3 (Chiếm đoạt từ 200 triệu đến dưới 500 triệu): Phạt tù từ 05 năm đến 12 năm;
  • Khung 4 (Chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên): Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

  • Gọi 037.6999996 để được sử dụng dịch vụ Luật sư thu hồi công nợ khó đòi!
  • Kết nối Zalo (037.6999996) để được tư vấn quy định về vay tiền và thu hồi nợ!

2.2. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015):

Nếu ngay từ đầu người vay đã dùng thủ đoạn gian dối (như đưa thông tin giả về mục đích vay, làm giả giấy tờ nhà đất, giả mạo thân thế…) để người cho vay tin tưởng giao tiền, sau đó lấy tiền rồi bỏ trốn thì hành vi này cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Điều 174 Bộ luật Hình sự 2015 quy định về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

“1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b) Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm;

c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội;

d) Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Tái phạm nguy hiểm;

đ) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

e) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

c) Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên;

c) Lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.”

Mức hình phạt đối với Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

  • Khung 1: Phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm;
  • Khung 2 (Chiếm đoạt từ 50 triệu đến dưới 200 triệu): Phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;
  • Khung 3 (Chiếm đoạt từ 200 triệu đến dưới 500 triệu): Phạt tù từ 07 năm đến 15 năm;
  • Khung 4 (Chiếm đoạt từ 500 triệu đồng trở lên): Phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân.
Xem thêm:  Tạt sơn, ném chất bẩn để đòi nợ có bị xử phạt không?

2.3. Xác định hành vi “bỏ trốn” trong thực tiễn tố tụng:

Thực tiễn áp dụng pháp luật cho thấy, không phải cứ “không nghe điện thoại” hay “đi làm xa” là được coi là bỏ trốn. Cơ quan điều tra sẽ xác minh các yếu tố sau để kết luận một người có “bỏ trốn” nhằm chiếm đoạt tài sản hay không:

  • Cắt đứt toàn bộ liên lạc: Tắt máy, khóa sim, xóa toàn bộ mạng xã hội, không phản hồi bất kỳ yêu cầu đòi nợ hợp pháp nào;
  • Rời khỏi nơi cư trú không rõ lý do: Tự ý bỏ đi khỏi nơi đăng ký thường trú/tạm trú mà không khai báo tạm vắng với chính quyền địa phương; người nhà và chính quyền đều không biết nơi ở hiện tại;
  • Tẩu tán tài sản: Bán hết nhà cửa, đất đai, tài sản có giá trị rồi bỏ đi mà không dùng tiền đó để trả nợ.

Khi có đủ căn cứ xác định bị cang đã bỏ trốn, Cơ quan điều tra sẽ ra Quyết định truy nã và tiến hành bắt giữ để xử lý theo quy định của pháp luật.

3. Vì sao tình trạng người vay tiền không trả, bỏ trốn ngày càng phổ biến?

Trong quá trình tư vấn và trực tiếp hỗ trợ khách hàng xử lý các khoản nợ, Luật Dương Gia nhận thấy tình trạng người vay rời khỏi nơi cư trú, cắt đứt liên lạc hoặc cố tình tránh mặt chủ nợ đang xuất hiện ngày càng nhiều. Thực tế này thường xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau; trong đó nổi bật là khó khăn tài chính, thua lỗ trong kinh doanh và mất khả năng cân đối dòng tiền.

  • Thứ nhất: Nhiều cá nhân, hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp nhỏ sau khi phát sinh khoản vay đã rơi vào tình trạng mất khả năng thanh toán do doanh thu sụt giảm, nguồn vốn cạn kiệt hoặc hoạt động kinh doanh đình trệ. Trong những trường hợp này, người vay có thể lựa chọn cách né tránh, không nghe điện thoại, thay đổi nơi ở hoặc tạm thời “mất liên lạc” với chủ nợ. Tuy nhiên, việc không còn khả năng trả nợ và việc cố ý chiếm đoạt tài sản là hai vấn đề pháp lý hoàn toàn khác nhau và cần được đánh giá dựa trên từng tình tiết cụ thể.
  • Thứ hai: Bên cạnh những trường hợp thực sự gặp khó khăn về tài chính, thực tế cũng tồn tại trường hợp người vay có dấu hiệu gian dối hoặc cố ý chiếm đoạt tài sản. Chẳng hạn, người vay sử dụng thông tin không đúng sự thật để tạo lòng tin, vay được tiền rồi bỏ trốn; hoặc sau khi nhận tài sản hợp pháp lại có hành vi nhằm chiếm đoạt và không thực hiện nghĩa vụ hoàn trả. Tùy vào bản chất hành vi và các yếu tố cấu thành, người thực hiện có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự theo quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
  • Thứ ba: Một nguyên nhân khác khiến việc thu hồi nợ trở nên khó khăn là nhiều giao dịch vay tiền được xác lập dựa chủ yếu trên sự tin tưởng giữa các bên. Không ít trường hợp cho vay không có hợp đồng rõ ràng, không lập giấy nhận nợ, không có tài sản bảo đảm hoặc chứng từ chuyển tiền không thể hiện đầy đủ nội dung giao dịch. Khi người vay không trả nợ hoặc bỏ đi khỏi nơi cư trú, chủ nợ gặp nhiều khó khăn trong việc chứng minh khoản vay, xác định nghĩa vụ thanh toán cũng như thực hiện thủ tục khởi kiện hoặc yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết.
  • Thứ tư: Sự hạn chế trong nhận thức pháp luật cũng là một yếu tố đáng lưu ý. Một số người cho rằng chỉ cần thay đổi nơi ở, tránh mặt hoặc không liên lạc với chủ nợ thì có thể né tránh trách nhiệm. Tuy nhiên, việc bỏ đi không làm chấm dứt nghĩa vụ trả nợ. Trong những trường hợp có căn cứ xác định người vay thực hiện hành vi nhằm chiếm đoạt tài sản, trách nhiệm của họ không chỉ dừng lại ở nghĩa vụ dân sự mà còn có thể phát sinh trách nhiệm hình sự.
Xem thêm:  Mẫu biên bản cấn trừ công nợ bằng tiếng Anh, song ngữ

Chính vì vậy, khi người vay có dấu hiệu mất liên lạc hoặc bỏ trốn, chủ nợ không nên chỉ tập trung vào việc tìm kiếm người vay mà cần nhanh chóng rà soát toàn bộ hồ sơ, chứng cứ và diễn biến giao dịch để xác định đúng bản chất vụ việc. Việc lựa chọn kịp thời giữa thương lượng, khởi kiện dân sự hoặc tố giác hành vi có dấu hiệu tội phạm sẽ có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi và nâng cao khả năng thu hồi tài sản.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Chat Zalo Luật sư
Call Zalo