Di chúc là văn bản thể hiện ý chí của người lập di chúc về việc xác định người được hưởng di sản thừa kế. Trong nhiều gia đình, vì tình cảm gắn bó đặc biệt hoặc những hoàn cảnh riêng mà không ít ông bà mong muốn lập di chúc để lại di sản thừa kế cho cháu thay vì để lại cho con cái theo thông lệ. Vậy: Có được lập di chúc để lại di sản thừa kế cho cháu không?
Mục lục bài viết
1. Có được lập di chúc để lại di sản thừa kế cho cháu không?
Theo quy định tại Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015, di chúc được hiểu là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết.
Như vậy, di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển di sản thừa kế của mình cho người mà mình mong muốn sau khi chết.
Và Điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền thừa kế như sau:
- Cá nhân có quyền định đoạt tài sản của mình bằng cách lập di chúc; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; thừa hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật;
- Người thừa kế không là cá nhân mà là tổ chức vẫn có quyền được hưởng di sản theo di chúc.
Như vậy, bất cứ ai cũng có quyền lập di chúc và định đoạt tài sản của mình cho người mà họ muốn để lại tài sản.
Tiếp tục căn cứ Điều 626 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về quyền của người lập di chúc theo đó người lập di chúc có các quyền sau đây:
- Thứ nhất, chỉ định người được thừa kế hoặc tước quyền được hưởng di sản của người thừa kế;
- Thứ hai, xác định phần di sản được hưởng cho từng người thừa kế;
- Thứ ba, có thể để một phần di sản trong toàn bộ khối di sản để thực hiện việc di tặng hoặc thờ cúng;
- Thứ tư, giao nghĩa vụ cho người thừa kế;
- Thứ năm, lựa chọn và chỉ định ra một người tin tưởng nhất để có thể giữ di chúc, quản lý di sản, hoặc là người trực tiếp tiến hành phân chia di sản sau khi người để lại di chúc qua đời.
Như vậy, đối chiếu với quy định trên có thể thấy, ông bà hoàn toàn CÓ QUYỀN lập di chúc chỉ định cháu của mình là người được thừa kế một phần hoặc toàn bộ tài sản của mình khi qua đời.
2. Cháu có thuộc hàng thừa kế theo pháp luật không?
Trong thực tiễn giải quyết tranh chấp thừa kế, rất nhiều người nhầm lẫn giữa quyền được hưởng thừa kế theo pháp luật và quyền được chỉ định hưởng di sản theo di chúc. Để trả lời chính xác câu hỏi “có được lập di chúc để lại di sản thừa kế cho cháu không?” thì trước hết cần làm rõ: Cháu có thuộc hàng thừa kế theo pháp luật hay không và trong trường hợp nào cháu được hưởng di sản? Cụ thể như sau:
2.1. Các hàng thừa kế theo quy định hiện hành:
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 hiện hành, khi người chết không để lại di chúc hoặc di chúc không hợp pháp thì di sản sẽ được chia theo pháp luật (ĐIều 650). Việc chia thừa kế theo pháp luật được thực hiện dựa trên thứ tự các hàng thừa kế, trong đó (ĐIều 651):
- Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng; cha đẻ, mẹ đẻ; cha nuôi, mẹ nuôi; con đẻ, con nuôi của người chết.
- Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại; anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại.
- Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết.
Và những người cùng hàng thừa kế sẽ được hưởng phần di sản bằng nhau; chỉ khi không còn ai ở hàng thừa kế trước thì hàng thừa kế sau mới được hưởng di sản.
Như vậy, việc xác định cháu thuộc hàng thừa kế nào có ý nghĩa quyết định trong trường hợp thừa kế theo pháp luật.
2.2. Cháu nội, cháu ngoại được xếp vào hàng thừa kế nào?
Căn cứ vào quy định nêu trên, có thể xác định rõ:
- Cháu nội, cháu ngoại của người chết (tức người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại) thuộc hàng thừa kế thứ hai;
- Cháu không thuộc hàng thừa kế thứ nhất nên không đương nhiên được hưởng di sản nếu vẫn còn người ở hàng thừa kế thứ nhất (vợ, chồng, con, cha mẹ của người chết).
Hay nói cách khác: Nếu người để lại di sản còn con ruột, con nuôi, vợ hoặc chồng, thì cháu sẽ không được hưởng thừa kế theo pháp luật, trừ khi:
- Không còn ai ở hàng thừa kế thứ nhất; hoặc
- Cháu thuộc trường hợp thừa kế thế vị (mcụ 2.3).
Trong thực tế, nhiều gia đình cho rằng cháu “đương nhiên được hưởng” tài sản của ông bà. Tuy nhiên về mặt pháp lý, quyền thừa kế của cháu không được ưu tiên mà phụ thuộc chặt chẽ vào tình trạng của hàng thừa kế thứ nhất.
2.3. Trường hợp cháu được thừa kế thế vị:
Ngoài việc được hưởng thừa kế theo hàng, pháp luật còn ghi nhận một cơ chế đặc biệt để bảo vệ quyền lợi của cháu – đó là thừa kế thế vị. Theo quy định, thừa kế thế vị được áp dụng khi (Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015):
- Con của người để lại di sản chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản;
- Khi đó, cháu (con của người con đã chết) sẽ được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu đáng lẽ được hưởng nếu còn sống.
Một số điểm pháp lý cần lưu ý:
- Thừa kế thế vị chỉ áp dụng trong quan hệ trực hệ (ông bà – cha mẹ – cháu).
- Cháu chỉ được hưởng trong phạm vi phần di sản của cha hoặc mẹ mình, không hưởng vượt quá phần đó;
- Nếu có nhiều cháu cùng thế vị một người thì các cháu sẽ chia đều phần di sản được thế vị.
3. Quyền của con, vợ, chồng khi di chúc chỉ để lại di sản cho cháu:
3.1. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc là ai?
Pháp luật dân sự không tuyệt đối hóa quyền định đoạt di sản của người lập di chúc. Trong một số trường hợp dù không được chỉ định trong di chúc hoặc bị truất quyền thừa kế, một số chủ thể vẫn được hưởng một phần di sản bắt buộc. Những người này bao gồm (Điều 644 Bộ luật Dân sự 2015):
- Vợ hoặc chồng của người để lại di sản;
- Con chưa thành niên của người để lại di sản;
- Con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động;
- Cha, mẹ của người để lại di sản (trong một số trường hợp).
Các chủ thể nêu trên được gọi chung là người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc. Đồng thời cần lưu ý thêm:
- Quyền của họ phát sinh trực tiếp từ luật, không phụ thuộc vào ý chí của người lập di chúc;
- Di chúc dù hợp pháp về hình thức và nội dung vẫn có thể bị hạn chế hiệu lực nếu xâm phạm quyền của nhóm người này.
3.2. Trường hợp con ruột, vợ, chồng vẫn được hưởng phần di sản bắt buộc:
Khi di chúc chỉ để lại di sản cho cháu, nhưng con hoặc vợ/chồng thuộc diện được bảo vệ thì họ vẫn có quyền hưởng phần di sản bắt buộc với các đặc điểm sau:
- Phần di sản bắt buộc được xác định tương đương hai phần ba suất thừa kế theo pháp luật của người đó;
- Việc xác định “suất thừa kế theo pháp luật” được thực hiện giả định như trường hợp không có di chúc;
- Phần di sản bắt buộc này được trích ra trước, sau đó phần di sản còn lại mới được chia theo nội dung di chúc cho cháu.
Ví dụ: Ông A có vợ là B và một người con là C (đã thành niên nhưng mất khả năng lao động). Ông A lập di chúc để lại toàn bộ tài sản cho cháu D. Trong trường hợp này:
- B và C vẫn thuộc diện người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc;
- Dù không được chỉ định trong di chúc, B và C vẫn được hưởng phần di sản bắt buộc;
- Cháu D chỉ được hưởng phần di sản còn lại sau khi đã đảm bảo quyền lợi của B và C.
Như vậy, di chúc không đương nhiên bị vô hiệu, nhưng không được thực hiện toàn bộ theo ý chí người lập di chúc.
3.3. Cách phân chia di sản trong trường hợp có tranh chấp:
Khi phát sinh tranh chấp liên quan đến di chúc chỉ để lại di sản cho cháu, việc giải quyết không chỉ căn cứ vào ý chí của người lập di chúc mà còn phải tuân thủ chặt chẽ các quy định mang tính bảo vệ của pháp luật dân sự. Trong những trường hợp này, Tòa án sẽ tiến hành xem xét toàn diện cả về hiệu lực của di chúc lẫn quyền lợi của những người thừa kế có liên quan để bảo đảm sự công bằng và đúng luật.
- Thứ nhất, cơ quan có thẩm quyền sẽ đánh giá hiệu lực pháp lý của di chúc. Việc đánh giá này tập trung vào các yếu tố như: Người lập di chúc có minh mẫn, tự nguyện tại thời điểm lập di chúc hay không; nội dung di chúc có rõ ràng, xác định được người thừa kế, di sản và phạm vi di sản hay không; hình thức di chúc có phù hợp với quy định của pháp luật hay không… Chỉ khi di chúc đáp ứng đầy đủ các điều kiện này thì mới được xem là hợp pháp và có căn cứ để xem xét thực hiện.
- Thứ hai, sau khi xác định di chúc là hợp pháp, Tòa án sẽ tiếp tục xem xét sự tồn tại của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc như vợ hoặc chồng, con chưa thành niên hoặc con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động của người để lại di sản… Nếu có những chủ thể này, pháp luật buộc phải bảo đảm cho họ được hưởng phần di sản bắt buộc dù di chúc không nhắc đến hoặc thậm chí loại trừ họ khỏi quyền thừa kế.
- Thứ ba, việc phân chia di sản sẽ được thực hiện theo nguyên tắc ưu tiên quyền hưởng di sản bắt buộc. Phần di sản tương ứng với quyền lợi bắt buộc của con hoặc vợ/chồng sẽ được trích ra trước, căn cứ vào suất thừa kế theo pháp luật và tỷ lệ phần di sản mà pháp luật bảo vệ. Chỉ sau khi đã bảo đảm đầy đủ các quyền lợi này, phần di sản còn lại mới được phân chia cho cháu theo nội dung di chúc.
- Thứ tư, trong trường hợp giá trị di sản không đủ để vừa bảo đảm phần di sản bắt buộc, vừa thực hiện đầy đủ nội dung di chúc thì di chúc sẽ bị hạn chế hiệu lực trên thực tế. Khi đó, cháu – dù được chỉ định là người thừa kế duy nhất trong di chúc thì vẫn có thể chỉ được hưởng một phần rất nhỏ hoặc thậm chí không còn phần di sản nào để nhận nếu toàn bộ di sản đã được dùng để bảo đảm quyền lợi bắt buộc của các chủ thể khác.
Thực tiễn giải quyết tranh chấp cho thấy, phần lớn các vụ việc liên quan đến di chúc để lại di sản cho cháu không dẫn đến việc tuyên di chúc vô hiệu hoàn toàn mà chủ yếu là việc điều chỉnh lại cách phân chia di sản để phù hợp với quy định pháp luật. Do đó, nếu người lập di chúc không cân nhắc kỹ yếu tố “phần di sản bắt buộc”, di chúc dù được lập với mong muốn rõ ràng vẫn có thể không đạt được hiệu quả pháp lý như mong đợi.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


