Pháp luật không mặc nhiên bảo đảm quyền hưởng di sản trong mọi trường hợp. Trên thực tế, có không ít tình huống người thừa kế bị loại trừ quyền hưởng, tự mình từ chối nhận di sản hoặc không đáp ứng đủ điều kiện để được nhận phần di sản là nhà đất. Vậy, những trường hợp nào không được hưởng di sản thừa kế là nhà đất?
CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA
TRỤ SỞ CHÍNH TẠI HÀ NỘI
Địa chỉ: Số 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, thành phố Hà Nội.
Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568
Số điện thoại Luật sư: 037.6999996
Email: dichvu@luatduonggia.vn
Mục lục bài viết
1. Điều kiện hưởng di sản thừa kế là nhà đất là gì?
Để được nhận thừa kế quyền sử dụng đất, người nhận thừa kế phải đáp ứng các điều kiện theo quy định tại khoản 1 Điều 45 Luật Đất đai 2024. Theo đó, người sử dụng đất được thực hiện quyền thừa kế bằng quyền sử dụng đất khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (trừ trường hợp thừa kế quyền sử dụng đất, chuyển đổi đất nông nghiệp khi dồn điền, đổi thửa, tặng cho quyền sử dụng đất cho Nhà nước, cộng đồng dân cư…);
- Đất không có tranh chấp hoặc tranh chấp đã được giải quyết bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bản án, quyết định của Tòa án, quyết định hoặc phán quyết của Trọng tài đã có hiệu lực pháp luật;
- Quyền sử dụng đất không bị kê biên, áp dụng biện pháp khác để bảo đảm thi hành án theo quy định của pháp luật thi hành án dân sự;
- Trong thời hạn sử dụng đất;
- Quyền sử dụng đất không bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định của pháp luật.
Lưu ý:
- Việc thừa kế phải đăng ký tại cơ quan đăng ký đất đai và có hiệu lực kể từ thời điểm đăng ký vào Sổ địa chính.
- Đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài không thuộc đối tượng được mua nhà ở gắn liền với quyền sử dụng đất ở tại Việt Nam thì không được nhận thừa kế quyền sử dụng đất, đồng nghĩa với không được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhưng được nhận thừa kế về giá trị quyền sử dụng đất.
2. Các trường hợp không được hưởng di sản thừa kế là nhà đất:
Theo khoản 1 Điều 621 Bộ luật Dân sự 2015, những người sau đây không được quyền hưởng di sản:
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khoẻ hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
- Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
- Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
- Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, huỷ di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
Theo quy định trên, sẽ xảy ra những trường hợp sau:
2.1. Trường hợp không có di chúc:
Trường hợp người để lại di sản thừa kế không lập di chúc thì những người sau đây sẽ không được hưởng thừa kế:
Một là, người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc có hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó.
Cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe của người để lại di sản là cố ý giết người để lại di sản, cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người để lại di sản. Ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản là đối xử tàn tệ hoặc đầy đọa người để lại di sản về thể xác, tinh thần. Xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm người để lại di sản thể hiện ở hành vi làm nhục, sỉ nhục, bịa đặt hoặc loan truyền những điều biết rõ là bịa đặt nhằm xúc phạm danh dự người để lại di sản.
Cần lưu ý, điều kiện được đặt ra trong trường hợp này là phải có một bản án có hiệu lực của pháp luật. Nếu có những hành vi trên nhưng không bị kết án thì sẽ không bị ràng buộc bởi điều này. Ngoài ra, người thừa kế có những hành vi nói trên đã bị kết án dù đã được xóa án thì vẫn không có quyền hưởng di sản của người đã chết.
Hai là, người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản. Những người có nghĩa vụ nuôi dưỡng nhau theo quy định tại Luật Hôn nhân và gia đình 2014; như nghĩa vụ giữa cha, mẹ và con cái, giữa ông, bà và cháu, giữa, chị, em với nhau, nếu có khả năng nuôi dưỡng mà không thực hiện nuôi dưỡng, làm cho người cần được nuôi dưỡng lâm vào tình cảnh khó khăn, thiếu thốn, đói khổ, hoặc nguy hiểm đến tính mạng thì không có quyền hưởng di sản của người đó.
Ba là, người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng.
Bốn là, người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản. Quyền lập di chúc để định đoạt tài sản chính là quyền định đoạt tài sản của chủ sở hữu khi còn sống. Hành vi cản trở đối với người lập di chúc là hành vi trái pháp luật. Do vậy, người có hành vi cản trở sẽ bị tước quyền hưởng di sản do người có di sản để lại.
Trường hợp người thừa kế có hành vi lừa dối người lập di chúc hoặc giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc… mà không nhằm mục đích hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người lập di chúc thì chỉ áp dụng các biện pháp chế tài thông thường theo pháp luật dân sự như bồi thường thiệt hại… (Điều 584) mà không bị tước quyền thừa kế theo trường hợp này.
2.2. Trường hợp có di chúc:
Đây là trường hợp: Người để lại di sản đã biết hành vi của những người trên nhưng vẫn cho họ hưởng di sản thì những người đó vẫn được hưởng di sản.
Quy định này dựa trên cơ sở pháp luật luôn tôn trọng quyền định đoạt của người để lại di sản.
Như vậy: Nếu thuộc các trường hợp nêu trên thì không được hưởng di sản thừa kế là nhà đất.
3. Hệ quả pháp lý khi người thừa kế không được hưởng di sản nhà đất:
Việc một người thừa kế không được hưởng di sản là nhà đất có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như bị truất quyền, thuộc trường hợp không có quyền hưởng di sản theo quy định của pháp luật, từ chối nhận di sản hoặc không đáp ứng điều kiện pháp lý để nhận tài sản. Trong những trường hợp này, pháp luật không để phần di sản bị bỏ trống mà quy định rõ cơ chế xử lý nhằm bảo đảm việc phân chia tài sản được thực hiện hợp pháp và ổn định.
3.1. Phần di sản sẽ được xử lý như thế nào?
Khi một người thừa kế không được hưởng di sản, phần tài sản đáng lẽ thuộc về họ sẽ được xác định lại trong khối di sản chung để tiến hành phân chia theo quy định của pháp luật. Tùy từng trường hợp cụ thể:
- Nếu người thừa kế bị truất quyền theo di chúc hoặc thuộc trường hợp không có quyền hưởng di sản theo pháp luật thì họ được xem như không có quyền hưởng ngay từ đầu đối với phần tài sản đó;
- Nếu người thừa kế tự nguyện từ chối nhận di sản, phần di sản này sẽ được phân chia lại cho những người thừa kế còn lại theo nội dung di chúc hoặc theo pháp luật;
- Việc xác định chính xác bản chất pháp lý của từng trường hợp có ý nghĩa quan trọng bởi nó ảnh hưởng trực tiếp đến cách thức phân chia tiếp theo.
3.2. Chuyển phần di sản cho người thừa kế khác:
Trong đa số trường hợp, phần di sản mà người thừa kế không được hưởng sẽ được chuyển giao cho các đồng thừa kế còn lại. Cụ thể:
- Trường hợp chia thừa kế theo di chúc: phần di sản sẽ được xử lý theo nội dung di chúc nếu người lập di chúc có quy định phương án thay thế. Nếu di chúc không đề cập, việc phân chia phần còn lại có thể được áp dụng theo nguyên tắc chia theo pháp luật;
- Trường hợp chia theo pháp luật: phần di sản sẽ được chia lại cho những người cùng hàng thừa kế còn lại theo nguyên tắc chia đều, trừ khi pháp luật có quy định khác.
Điều này bảo đảm tính công bằng và duy trì sự ổn định trong việc xác lập quyền sở hữu đối với nhà đất.
3.3. Áp dụng thừa kế thế vị trong một số trường hợp:
Trong trường hợp người thừa kế không được hưởng di sản do chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người để lại di sản, pháp luật cho phép áp dụng chế định thừa kế thế vị (Điều 652 Bộ luật Dân sự 2015).
Theo đó, con của người thừa kế đã chết có thể thay thế vị trí của cha hoặc mẹ mình để hưởng phần di sản mà đáng lẽ người đó được hưởng nếu còn sống. Quy định này nhằm bảo đảm quyền lợi của thế hệ sau và phản ánh nguyên tắc bảo vệ quan hệ huyết thống trong pháp luật thừa kế.
Tuy nhiên, cần lưu ý rằng thừa kế thế vị chỉ áp dụng trong một số trường hợp nhất định theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 và không áp dụng đối với trường hợp người thừa kế bị tước quyền hưởng di sản do vi phạm pháp luật.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


