Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc mặt chủ quan theo luật định

Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thuộc mặt chủ quan của người phạm tội bao gồm 7 tình tiết được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

Có thể phân loại các tình tiết giảm nhẹ TNHS được quy định tại khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017, các tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc mặt chủ quan của người phạm tội, gồm

1) Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm;

2) Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu qu;

3) Phạm tội lần đầu hoặc thuộc trường hợp ít nghiêm trọng;

4) Người phạm tội tthú;

5) Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải

6) Người phạm tội tích cực hợp tác với quan trách nhiệm trong việc phát hiện tội phm hoc trong qtrình giải quyết vụ án

7) Người phạm tội đã lập công chuộc tội 

1. Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm (điểm a khoản 1 Điều 51 BLHS 2015): 

Như đã phân tích phần luận chung, tội phạm nh vi nguy hiểm cho hội, gây thiệt hại hoặc đe dọa y thiệt hại cho các quan hệ hội được pháp luật hình sự bảo vệ, vì thế nếu người phạm tội các hành vi nhằm ngăn chặn xuất phát từ nhận thức , ý chí của người phạm tội với mục đích làm giảm bớt sự thiệt hại các chủ thể này đã gây ra thì mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội tương ứng đã giảm xuống so với các trường hợp tương tự khác

Ngăn chặn hoặc làm gim bớt tác hại của tội phạm trường hợp người phạm tội trong quá trình thực hiện tội phạm hoặc ngay sau khi thực hiện tội phạm (do lỗi cố ý hoặc lỗi ý) đã hành vi không làm cho tác hại của tội phạm xảy ra hoặc làm giảm bớt tác hại của .16 đây, khi xét theo các dấu | hiệu cấu thành tội phạm, thể thấy

Trường hợp 1, xuất phát từ lỗi ý quá tự tin của người phạm tội: Người phạm tội nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi do mình thực hiện. Người phạm tội thấy trước hậu quả nguy hại cho xã hội hành vi của mình thể xảy ra. Người phạm tội không mong muốn cho hậu quả nguy hiểm cho hội của nh vi của mình xảy ra, cũng không ý thức để mặc cho hậu quả nguy hiểm cho xã hội xảy ra cho rằng hậu qunguy | hiểm cho hội sẽ không xảy ra hoặc thể ngăn ngừa được

Trường hợp 2, xuất phát từ lỗi ý do cẩu thả của người phạm tội: Sự vô ý do cẩu thkhông thấy trước hậu quả nguy hiểm cho hội của hành vi vốn người đó nghĩa vụ phải thấy trước đủ điều kiện đthấy trước hậu quả nguy hiểm cho hội bởi hành vi của mình nếu như họ sự chú ý cần thiết. Người phạm tội không thấy trước hậu quả nguy hiểm cho hội do sự cẩu thả, thiếu sự quan tâm, cẩn thận nên đã vi phạm những quy tắc an toàn hội thuộc các lĩnh vực khác nhau của đời sống hội như các quy định về phòng cháy, về khám chữa bệnh, an toàn giao thông, an toàn lao động... khi thực hiện hành vi nên đã gây ra hậu quả nguy hiểm cho hội

Trong cả 2 trường hợp nếu trên đều xuất phát từ dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm

Trong thực tiễn, tình tiết ngăn chặn của người phạm tội thể hiện việc người phạm tội đã những hành động, biện pháp cụ thể hạn chế tác hại do hành vi phạm tội của mình y ra như sau khi ý sử dụng công cụ, vật liệu dẫn đến làm cháy nhà đã lao vào chữa cháy, cứu người bị nạn, tài sản hoặc sau khi gây thương tích cho người bị hại đã nhanh chóng đưa họ đi cấp cứu. Sự kết hợp giữa thái hộ tích cực xuất phát từ ý chí của người phạm tội mong ngăn chặn được tác hại của tội phạm tác hại đó trên thực tế đã được hạn chế hoặc được ngăn chặn sở giảm nhTNHS của tình tiết này

Luật chỉ quy định đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại chứ không quy định đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt thiệt hại. Nên cần phân biệt tác hại và thiệt hại, đây yếu tố để xác định đây phải tình tiết giảm nhẹ thuộc mặt chủ quan hay không. Thiệt hại mất mát, hỏng nặng nề về ngưi củacòn tác hại điều hại18. Khái niệm thiệt hi và tác hại hai khái niệm kng giống nhau, hai khái niệm này chỉ thể trùng nhau trong một số trường hợp, dụ thiệt hại và tác hại của nh vi gây thương tích cho người khác thì là một nhưng với trường hợp một người thực hiện hành vi buôn bán trái phép chất ma túy thì thiệt hại của tội phạm số lượng chất ma túy buôn bán trái phép trong khi tác hại những ảnh hưởng xấu của chất ma túy đối với hội, sức khỏe con người. Do vậy, đối với trường hợp này thì tác hại thiệt hại không phải một

Việc thực hiện hành vi ngăn chặn, giảm bớt tác hại của tội phạm thể do bản thân chthể thc hiện hành vi phạm tội tự phm làm, tức xuất phát từ ý chí của người phạm tội hoặc do chủ thể khác giúp đỡ, khuyên bảo, yêu cầu bắt buộc thực hiện. Do đó, điều luật quy định đã ngăn chặn hoặc m gim bớt tác hạichứ không quy định tự ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại”. Mức độ làm giảm nhẹ TNHS sẽ phụ thuộc vào thái độ của người phạm tội đối với việc ngăn chặn, làm giảm bớt tác hại, khi quyết định hình phạt, hội đồng xét xử thường đề cao việc chủ thể tự mình hành động sẽ được giảm nhẹ TNHS hơn các trường hợp phải để người khác khuyên bảo hoặc bắt buộc

Hành động ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại tồn tại trên thực tế đã ngăn chặn được tác hại nếu hành vi này chỉ xảy ra dưới hình thức một khnăng nhưng không ngăn chặn được hoặc không làm giảm bớt hậu quả của hành vi thì không được coi tình tiết giảm nhẹ

Ví dụ: Nguyễn Văn Anh (A) đánh nhau với Phạm Thị Bích (B) bên bờ sông, A đã đẩy ngã B xuống sông. Biết B không biết bơi, A sợ xảy ra hậu quả B chết đui nên đã nhảy xuống sông cứu B nhưng bơi gần ra giữa sông thì A đuối sức bị ngợp nước, A tâm sợ mình chết đuối nên lại vội vàng bơi vào bờ. Hậu quả B vẫn bị chết đuối. Trường hợp này của A không được coi tình tiết giảm nhẹ ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm. Nhưng cũng trong tình huống này, A sợ xảy ra hậu quả B chết nên đã nhảy xuống cứu B và cứu được B, mặc trên thực tế B vẫn phải đưa đi cấp cứu đuối nước, thì trong trường hợp này, việc ngăn chặn của A đã làm giảm bớt tác hại xảy ra

Đây được xem tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc mt chủ quan xuất phát từ ý chí của người phạm tội

Như vậy, để thể được coi tình tiết giảm nhẹ TNHS thì hành động của người phạm tội phải thực sự ngăn chặn được hoặc làm giảm bớt được tác hại, nếu họ hành động nhưng không làm thay đổi kết quả tkhông được hưởng nh tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình snày.

2. Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả (điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS 2015): 

Khi t theo yếu tố cấu thành tội phạm, trường hợp này hậu quả của tội phạm đã xảy ra trên thực tế thể được xếp vào mặt khách quan của tội phạm. Nhưng xét theo phương diện rộng yếu tố chủ quan của tội phạm thì trong trường hợp này chủ thể thực hiện hành vi đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường những thiệt hại do mình gây ra cho bên bị thiệt hi hoặc đã tự nguyện khắc phục hậu quả của tội phạm. Nghĩa xuất phát từ nhận thức ý chí của người phạm tội dẫn đến hành động tự nguyện sửa chữa, bồi thường hoặc khắc phục những thiệt hi do mình gây ra

Khi nghiên cứu, tác giả thấy rằng quan điểm cho rằng, 3 hành vi: sửa chữa, bồi thường khắc phục thiệt hại một chuỗi các nh vi chỉ được coi một tình tiết giảm nhẹ TNHS chung tình tiết này được quy định trong một điều luật đa số người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hi khắc phục hậu quả đều thể hiện ý nguyện giải quyết hậu quả do hành vi phạm ti của mình gây ra kết quả thực hiện hành vi này đã ngăn chặn được hậu quả xảy ra của hành vi. Tác giả cho rằng, khắc phục, bồi thường, sửa chữa ba nh vi nội dung khác nhau nhưng cùng một tính chất nhằm khắc phục hu quả tội phạm gây ra nên thể nói điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 quy định ba nh tiết giảm nhẹ cùng nằm trong một điều luật chứ không chmột tình tiết giảm nhẹ

Sửa chữa chữa lại nhng cái hành vi phạm tội đã gây hỏng, làm cho cái đã bị hỏng do hành vi phạm ti của bị cáo gây ra trở lại trạng thái bình thường thể được như ban đầu19. dụ: Sửa lại chiếc bàn bị gãy chân, lợp lại mái nhà bị vỡ ngói... Tuy nhiên, trên thực tế có một số trường hợp các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điều luật khác nhau nhưng lại bị lầm tưởng giống nhau hành động sửa chữa được hiểu nhầm hành vi khác ngược lại. dụ: Trong một vụ việc cố ý gây thương tích, người phạm thội sau khi thực hiện hành vi thấy bị hại bị thương, vết thương chảy nhiều máu nên đã băng vết thương đưa bị hại đi bệnh viện cấp cứu. Hành động này được thực hiện với mục đích để ngăn chặn hậu quthiệt hại do hành vi gây ra ngay sau khi hành vi hoàn thành chứ không phải khắc phục hậu quả của hành vi

Bồi thường việc chủ thể thực hiện tội phạm đền thiệt hại do hành vi phạm tội ca người phạm tội y ra, hậu quả này thể không thu hồi lại được, làm mất mát, hỏng không thsửa chữa được20. dụ: Một người do bực tức người bạn thân của mình nên đã đập phá một chiếc xe của một người bạn thân, sau khi hành vi xảy ra, quan điều tra đã thu giữ chiếc xe tiến hành giám định thiệt hại là hỏng hay hủy hoại, định giá giá trị chiếc xe để làm căn cứ để khởi tố vụ án kết quả chiếc xe bị hỏng nặng không khả năng sửa chữa nên hành vi này hành vi hủy hoi tài sản. Để khắc phục hậu quả tội phạm nên chthể phạm tội đã tnguyện trả cho người bạn của mình một khoản tiền bằng giá trị chiếc xe bị đã bị hủy hoại. Chỉ khi hậu quả của hành vi phạm tội những không thể khắc phục được thì vấn đề bồi thường mới được đặt ra và ng chỉ bồi thường được những thiệt hại về vật chất chứ không thể bồi thường được những thiệt hại về tính mạng, sức khỏenhân phẩm, danh dự. Như vậy, đặc trưng của tình tiết tự nguyện bồi thường thiệt hại chỉ giới hạn trong phạm vi những thiệt hại về tài sản (vật chất) còn những thiệt hại về nhân thân con người không thể đặt ra vấn đề bồi thường. Đối với trường cố ý gây thương tích, giết người, các tội xâm phạm nhân thân, nếu người phạm tội tự nguyện đưa cho người bị hại hoặc đại diện của họ tiền chữa bệnh, một mai táng phí, tiền trợ cấp khó khăn về vật chất hoặc tinh thần... thì đó không phải bồi thường thiệt hại mà chỉ thể coi đó tự nguyện khắc phục hậu quả. Công n 212/TANDTCPC ngày 13/09/2019 thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử hướng dẫn thêm về trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự đồng phạm như sau: Khi xem xét, quyết định trách nhiệm bồi thường thiệt hại Tòa án căn cứ o Điều 48 của Bộ luật nh s. Đối với trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vụ án đồng phạm được thực hiện theo quy định tại Điều 587 của Bộ luật Dân sự, theo đó thì Trong trường hợp nhiều người cùng gây thiệt hại thì những người đó phải liên đới bồi thường cho người bthiệt hại. Trách nhiệm bồi thường của từng người cùng gây thiệt hại được xác định ơng ứng với mức độ lỗi của mỗi người; nếu không xác định được mức đlỗi thì họ phải bồi thường thiệt hại theo phần bằng nhau. Ngoài ra, để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự thì Tòa án thể tham khảo thêm hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2006/NQHĐTP ngày 0872006 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật n sự năm 2005 vbồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trong vụ án đồng phạm, dựa vào mức độ lỗi do hành vi của người phạm tội trong vụ án để xác định mức bồi thường của từng nhân trong vụ án, nếu trong quá trình điều tra, truy tố, các bị can đã bồi thường thiệt hại cho bị hại tương ứng với mức độ lỗi của bản thân gây ra thì đều phải được áp dụng tình tiết này khi quyết định hình phạt

Khắc phục hậu quả việc chủ thể phạm tội chủ động khắc phục những thiệt hại do hành vi phạm tội gây n những thiệt hại này không thể bồi thường hoặc sửa chữa được21. dụ: Hu quả của hành vi phạm tội một người mẹ trong gia đình bị gây thương tích nặng, không n khả năng lao động thể dẫn đến nhiều hậu quả như gia đình thiếu đi một người lao động nên giảm thu nhập, gây khó khăn trong đời sống gia đình. Nếu người phạm tội tự nguyện đưa cho gia đình mt khoản tiền để chi trả chi phí chăm sóc các con của người mẹ đó đến tuổi trưởng thành, chi phí chữa bệnhthì được coi tình tiết giảm nhẹ, khắc phục hậu quả. Việc khắc phục hậu quả chỉ cần các chi phí hợp được bị hại hoặc đại diện gia đình bị hại chấp nhận thì vẫn thể áp dụng tình tiết này

Trường hợp quá trình giải quyết vụ án hình sự, xuất hiện hai hoặc ba hành vi giảm bớt trách nhiệm hình sự cùng thuộc tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này, nếu người phạm tội chỉ tự nguyện sửa chữa thì xác định người phạm tội đã tự nguyện sửa chữa thiệt hại, không được xác định cả nh tiết bồi thường hoặc khắc phục hậu quả; nếu người phạm tội vừa tự nguyện sửa chữa, vừa tự nguyện bồi thường, vừa tự nguyện khắc phục hậu quả thì nên coi họ cả ba tình tiết giảm nhẹ

Yếu tố tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả hai yếu tố cấu thành nên tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự này. Đây sự kết hợp giữa thiệt hại trên thực tế đã được khắc phục một mức độ nhất định sở giảm nhẹ TNHS và thái độ tự nguyện xuất phát từ ý chí trong khắc phục hậu quả của tội phạm. Nếu chỉ một trong hai yếu tố này thì không được áp dụng điểm b khon 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Do đó, mức độ giảm nhẹ TNHS của tình tiết này hoàn toàn phụ thuộc vào cả mức độ sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả lẫn sự tự nguyện, tức ý chí của người phạm tội người phạm tội đã thực hiện. Đây cũng trường hợp khó khi xếp tình tiết này thuộc tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc mặt chủ quan hay thuộc mặt khách quan của tội phạm. Ngoài ra, khi áp dụng tình tiết này cần chú ý một số đặc điểm sau

Thứ nhất, đối với tình tiết tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả, người phạm tội phải xuất phát từ nhận thức ý chí của bản thân: tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hi hoặc khắc phục hậu quả mới được coi tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc mặt chủ quan. Nếu nh động này xut phát do tviệc người khác hoặc của quan nhà nước, tổ chức hội tác động dẫn đến chủ thể phạm tội mới khắc phục hậu quả, sửa chữa hoc bồi thường thì không được coi là tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc mặt chủ quan thể được coi tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015. Tại mục 1.1 Nghị quyết số 01/2006/NQHĐTP ngày 12/5/2006 của Hội đồng thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật hình sự hướng dẫn sự tự nguyện của người phạm tội bao gồm cả các trường hợp khác như sau

a) Bcáo người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 15 tuổi khi phạm tội cha, mcủa họ đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo y ra;

b) Bị cáo người từ đủ 15 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi khi phạm tội và cha, mẹ của họ đã tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nếu bị cáo không tài sản;

c) Bị cáo (không phân biệt người đã thành niên hay người chưa thànhniên) hoặc cha, mcủa bị cáo chưa thành niên đã tự nguyện dùng tin, tài sản đsửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, những người bị hại, nguyên đơn n shoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối nhận, nếu số tiền, tài sản đó đã được giao cho quan tiến hành tố tng, quan thi hành án hoặc quan thẩm quyền khác quản để thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra;

d) Bị cáo (không phân biệt người đã thành niên hay người chưa thành niên) hoặc cha, mcủa bị cáo chưa thành niên xuất trình được chứng cứ chứng minh họ đã tự nguyện ng tiền, tài sản để sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, những người bị hại, nguyên đơn dân sự hoặc người đại diện hợp pháp của họ từ chối nhận họ đã đem số tiền, tài sản đó về nhà cất giữ để sẵn sàng thực hiện việc bồi thường khi có yêu cầu

đ) Bị cáo không tài sản để bồi thường nhưng đã tích cực tác động, đề nghị cha, mẹ hoặc người khác (v, chồng, con, anh, chị, em, bạn...) sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khc phục hậu quả nhng người này đã thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra;

e) Bị cáo không trách nhiệm sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của mình gây ra (dviệc bồi thường thiệt hại thuộc trách nhiệm của chủ sở hữu nguồn nguy hiểm cao độ) nhưng đã tự nguyện dùng tiền, tài sản của mình để sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả hoặc đã tích cc tác động, đề nghị cha, mẹ hoặc người khác sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả (nếu bị cáo không tài sản để bồi thường những người y đã thực hiện việc sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ” 

Thứ hai, để xác định thời điểm mức độ để coi tự nguyện khắc phục hậu quả, sửa chữa, bồi thường thiệt hại, ta cần căn cứ vào thời điểm người phạm tội thực hiện việc đó, nếu người phm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả trước khi mở phiên tòa xét xử thẩm thì đây trường hợp đương nhiên được hưởng tình tiết này. Nhưng nếu việc bồi thường thiệt hại thể diễn ra ngay trong phiên tòa được bị hại hoặc đại diện gia đình bhại đồng ý thì thể xem xét để áp dụng tính tình tiết này cho bị cáo

Ngoài ra, điều luật không quy định người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả mức độ nào, toàn bộ hay một phần so với thiệt hại hoặc hậu quả họ gây ra thì được hưởng tình tiết giảm nhẹ này. Qua thực tiễn xét xử, tòa án vẫn coi trường hợp người phạm tội chỉ sửa chữa, bồi thường thiệt hi hoặc khắc phục hậu quả một phần đều nh tiết giảm nhẹ miễn xuất phát từ ý chí tự nguyện của người phạm tội thì được xếp vào tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc mặt chủ quan. Trên thực tiễn, việc bồi thường hoặc khắc phục toàn bộ thiệt hại do tội phạm gây ra căn cứ để giảm nhẹ đáng kể mức độ TNHS. Điều này khuyến khích người phạm tội huy động mọi nguồn lực kinh tế để thực hiện việc bồi thường. Khi đánh giá mức sửa chữa, bồi thường hoc khắc phục để giảm nhẹ TNHS như thế nào cũng cần phải căn cứ vào thiệt hại đã xảy ra so với khả năng kinh tế trước mắt lâu dài của người phạm tội

Trường hợp xét thấy ý thức người phạm tội đã cố gắng hết sức với khả năng của mình như đi bán tài sản, đi vay, mượn... để sửa chữa, bồi thường thiệt hại nhưng mới chỉ lại phần nào thiệt hại thiệt hại gây ra qlớn so với khả năng kinh tế trước mắt cũng như u dài của họ thì cần đưa Tòa án xem xét khả năng để cho họ được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS này mức cao hơn những trường hợp khác

Cùng một tình tiết gim nhẹ nhưng đối với tội phạm khác nhau thì mức độ giảm nhẹ ng khác nhau, cùng phm một tội cùng có tình tiết giảm nhẹ như nhau nhưng đối với bị o khác nhau thì mức độ giảm nhẹ cũng khác nhau; mức độ giảm nhẹ của mỗi tình tiết còn phụ thuộc o những điều kiện khách quan khi hành vi phạm tội được thực hiện... vậy, khi xác định mức độ gim nhẹ của các tình tiết cn phải căn cvào hành vi phạm tội bo thực hiện, các yếu tố khách quan khác liên quan đến ván để áp dụng mức hình phạt cho phù hợp. dụ: Một bị o gây thiệt hại 700 triệu đồng nhưng hoàn cảnh gia đình đặc biệt kkhăn đã bán hết các tài sản giá trị, vay mượn người khác để bồi thường thiệt hại cũng chỉ được 350 triệu đồng thì mức độ giảm nhẹ sẽ nhiều hơn so với một bị cáo cũng gây thiệt hại 700 triệu đồng cũng bồi thường được 350 triệu đồng nhưng thu nhập hàng tháng trên một tỷ đồng

Ngoài ra, cần phân biệt tình tiết tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quảvới tình tiết ngăn chặn hoặc m giảm bớt c hại của tội phạm. Nếu trong trường hợp thứ hai tác hại của tội phạm đang trong quá trình phát sinh người phạm tội đã hành động chủ động ngăn chặn c hại của thì trong trường hợp thứ nhất, hậu quả của tội phạm đã xảy ra trên thực tế, người phạm tội chhành vi khắc phục những thiệt hại đó. Điều này ảnh hưởng đến đánh giá về giá trị giảm nhẹ TNHS của mỗi tình tiết. Tình tiết ngăn chặn hoc làm giảm bớt tác hại của tội phạm cần được coi mức độ giảm nhẹ TNHS hơn so với tình tiết tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả

Tóm lại, tình tiết này , mặc sự nh hưởng của yếu tố khách quan là thiệt hi xảy ra trên thực tếthể xếp đây tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc mặt khách quan. Nhưng khi phân tích dựa trên ý chí nhận thức xuất phát từ chính người phạm tội, Tòa án thể xếp đây tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc mặt chủ quan.

3. Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng (điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS 2015): 

Tình tiết giảm nhẹ y thể hiện chính sách hình sự của nhà nước trừng trị kết hợp giáo dục, vừa đáp ứng yêu cầu thể hóa hình phạt vừa thể hiện rõ tính nhân đạo, khoan hồng đối với người phạm tội. Đây không phải tình tiết giảm nhẹ TNHS mới được quy định trong BLHS năm 2015 được quy định trong BLHS Việt Nam từ năm 1985. Về bản, tình tiết này vẫn được giữ nguyên qua nhiều lần BLHS sửa đổi, bổ sung hoặc thay mới hiện được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015. Đồng thời, đây tình tiết thể hiện sự chiếu cố của nhà lập pháp đối với người chưa bao giờ thực hiện hành vi phạm tội nhưng

Trường hợp 1, ý chí chủ quan của người phạm tội , xuất phát từ lỗi cố ý hoặc lỗi ý của người phạm tội dẫn đến hành vi phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghm trọng. Trong trường hợp này, tình tiết giảm nhẹ TNHS được xếp vào nh tiết giảm nhTNHS thuộc mặt chủ quan của tội phạm xét theo yếu tố cấu thành tội phạm nếu thỏa mãn được các câu hỏi sau

(1)trí ý chí của người phạm tội đối với những biểu hiện bên ngoài (mặt khách quan khi thực hiện hành vi tội phạm như thế nào?

(2) Điều tc đy người phạm tội thực hiện nh vi khách quan nguy hiểm cho hội ? (động ). (3) Người phạm tội nhằm đạt được qua việc thực hiện hành vi khách quan nguy hiểm cho hội? (mục đích)

Trường hp 2, xuất phát thoàn cảnh bên ngoài tác động hoc yếu tố nhân thân của người phạm tội dẫn đến hành vi phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng . Trong trường hợp này, tình tiết giảm nhẹ TNHS không thuộc mt chủ quan của tội phạm

Để áp dụng tình tiết giảm nhẹ này đòi hỏi người phạm tội phải thỏa n đồng thời cả hai điều kiện đó là : phạm tội lần đầu phải thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Hay i cách khác, nếu ch hai nội dung này ra thì giữa phạm tội lần đầuvà thuộc trường hợp ít nghiêm trọngkhông liên quan với nhau, nhưng nhà làm luật quy định: Phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọngmột tình tiết giảm nhẹ với việc ng liên từ để gắn hai nội dung (hai vế) với nhau thì cả hai nội dung (hai vế) điều kiện cần đủ để xác định được coi tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự hay không. Tuy nhiên khi xác định nội dung tình tiết giảm nhẹ này thì chúng ta phải xác định từng vế, trên sở đó mới thể xác định người phạm tội có thuộc trường hợp tình tiết gim nhẹ TNHS nói chung, tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc mặt chủ quan hay không

Tình tiết phạm tội lần đầuchỉ ý nghĩa giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội nếu việc lần đầu phạm tội đó thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Thuộc trường hợp ít nghiêm trọngchính vế thứ hai, để khẳng định c thực rằng đây chính điều kiện cn đủ của tình tiết giảm nhẹ TNHS này

  • Phạm tội lần đầu 

Sau khi Bộ luật Hình sự 2015 hiệu lực pháp luật, tại Công văn số | 01/2017/TANDTC ngày 07/4/2017 của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn giải đáp về tình tiết phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọngquy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS được hiểu như sau: Phạm tội lần đầu từ trước đến nay chưa phạm tội lần nào. Nếu trước đó đã phạm tội bị kết án, nhưng đã được xóa án tích hoặc chưa bị kết án, nhưng đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình shoặc chưa bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình snay bị truy cứu trách nhiệm hình sự trong cùng lần phạm tội sau, thì không được coi phạm tội lần đầu. Song, rất nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề này

Quan điểm thứ nhất, phạm tội lần đầu lần đầu bị đưa ra xét xử, chỉ Toà án mới thẩm quyền quyết định hình phạt, một người chỉ bị Toà án đưa ra xét xử thì mới việc quyết định nh phạt chỉ khi quyết định nh phạt thì Toà án mới căn cứ vào các tình tiết giảm nhẹ. Nếu người phm tội đã nhiều lần phạm tội nhưng chưa lần nào bị Tán kết án thì vẫn được coi phạm tội lần đầu

Quan điểm thhai, phạm tội lần đầu lần đầu tiên bị kết án. Quan điểm nầy cho rằng để được coi phạm tội lần đầu bao gồm cả trường hợp trước đó đã phạm tội bị kết án, nhưng đã được xóa án tích hoặc chưa bị kết án, nhưng đã hết thời hiệu truy cứu TNHS hoặc chưa bị kết án, chưa hết thời hiệu truy cứu TNHS nay bị truy cứu TNHS trong cùng lần phạm tội sau

Quan điểm thba, phạm tội lần đầu đầu từ trước tới nay chưa phạm tội lần nào. Quan điểm này cho rằng phạm tội lần nào phải chưa từng hành vi nguy hiểm cho hội xâm phạm một trong những khách thể được Luật hình sự bảo vthỏa n c dấu hiệu về tội phạm được quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS năm 2015, cụ thể Tội phạm hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người năng lực trách nhiệm hình sự hoặc pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế đchính tr, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tpháp luật xã hội chủ nghĩa theo quy định của Bộ luật này phải bị xử hình sự.. nhân tác giả ủng hộ quan điểm này, luật quy định phạm tội lần đầuchứ không quy định bị kết án lần đầuhay bị xét xử lần đầu. Phạm tội hành vi xâm phạm đến các quan hệ hội Luật hình sbảo vệ, không phthuộc vào việc người hành vi đó bị xử như thế nào. Một người hành vi phạm tội thể bị Tán kết án, thể bị xử phạt hành chính, thể được miễn truy cứu trách nhiệm nh sự nhưng họ vẫn bị coi đã phạm tội nên lần phạm tội bị Toà án đang xét xử thì không thể coi phạm ti lần đầuđược. Phạm tội lần đầu một khái niệm độc lập không liên quan đến các chế định khác liên quan đến phạm tội nhiều lần như: tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm; tiền án hoặc tiền sự. Một người thể phạm tội nhiều lần nhưng thể không bxác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm, hoặc không bị xác định tiền án hoặc tiền sự, nhưng vẫn bị coi đã tội phạm.

Khoản 1 Điều 69 BLHS năm 2015 quy định Người được xóa án tích coi như chưa bị kết ánchứ không quy định coi như chưa phạm tội. Đồng thời, phạm tội lần đầu còn bao gồm cả trường hợp thực tiễn tố tụng được xác định oan, sai mà bản chất mặc hành vi nguy hiểm cho hội được Luật hình sự bảo vệ nhưng hành vi không lỗi hoặc không thỏa mãn mặt kch quan của một loại tội cụ thể trong BLHS.23 

Ngày 24/4/2018 Hội đồng thẩm phán TANDTC đã ban hành Nghị quyết 01/2018/NQHĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 66 106 BLHS về tha trước thời hạn điều kiện. Trong nghị quyết này tại khoản 2 Điều 2 có quy định về trường hợp phạm tội lần đầu cụ thể như sau

Các trường hợp được coi phạm tội lần đầu có thể xem xét nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Trước đó chưa phạm tội lần o;

b) Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được miễn trách nhiệm hình s;

c) Trước đó đã thực hiện hành vi phạm tội nhưng được áp dụng biện pháp pháp giáo dục tại trường giáo ỡng;

d) Trước đó đã bị kết án nhưng thuc trường hợp được coi không có án tích.” 

Theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 2 Nghị quyết này thì thể coi phạm tội lần đầu trong trường hợp bị cáo trước đã bị kết án nhưng thuộc trường hợp được coi không án tích. Bộ luật Hình sự quy định một strường hợp được coi là không án tích, cụ thể

Khoản 2 Điều 69 Bluật Hình sự quy định: Người bị kết án do lỗi ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi án tích” 

Khoản 1 Điều 107 Bộ luật Hình squy định

1. Người dưới 18 tuổi được coi không án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

a) Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi

b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng hoặc tội rất nghiêm trọng do ý

c) Người bị áp dụng biện pháp pháp quy định tại Mục 3 Cơng này.” 

Căn cứ quy định trên, người bị kết án thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 69 các điểm a, b, c khoản 1 Điều 107 Bluật Hình sthì được coi là không án tích. Khi những người này phạm tội thì thể xem xét áp dụng nh tiết phạm tội lần đầu

Tuy nhiên nếu chỉ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghm trọng thì không được coi là nh tiết giảm nhẹ, chỉ thuộc trường hợp ít nghiêm trọng thì mới được coi tình tiết giảm nhẹ. Do đó, Bộ luật nh sự quy định phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng

  • Thuộc trường hp ít nghiêm trọng 

quan điểm cho rằng trường hợp ít nghiêm trng được hiểu như tội phạm ít nghiêm trọng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 9 BLHS năm 2015

Quan điểm trên đã thống nhất hai khái niệm phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọngvới Tội phạm ít nghiêm trọng

Theo quan điểm này thì trường hợp ít nghiêm trọng được hiểu trường hợp phạm tội tính chất mức độ nguy hiểm cho hội không lớn mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với trường hợp ấy phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt đến 03 năm. Theo đó, tác giả cho rng đây hai trường hợp hoàn toàn khác nhau cần phải được phân biệt ràng. Tiêu chí đxác định tội phạm đó không qua 03 năm còn tiêu chí để c định trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng lại dựa vào mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội được c định trên thực tế24 Mức độ nghiêm trọng đó được xác định bằng tổng hợp nhiều căn cứ như mức độ nguy hiểm cho hooij của hành vi tương thích với mức thấp nhất của khung hình phạt, vai trò tham gia thực hiện tội phạm thứ yếu... Chính vì thế, ngi những tội ít nghiêm trọng, người phạm tội lần đầu đối với các tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, người phạm tội lần đầu đối với các tội đặc biệt của vụ án làm cho trường hợp hợp pháp tội cụ thể đó trở thành ít nghiêm trọng thì cũng thuộc trường hợp trên

Hiểu theo phương diện này cũng thống nhất với quan điểm của nhà làm luật thể hiện trong kỹ thuật lập pháp được sử dụng tại các Điều 110, 114, 115, 116, 119 của BLHS m 2015. Trong cấu trúc các điều luật này tại khoản 1 cấu thành bản đều mức hình phạt cao nhất rất nghiêm khắc (đến 15 năm đối với Điều 115, 116 BLHS năm 2015; chung thân đối với Điều 119 BLHS năm 2015; tử hình đối với dấu hiệu phạm tội trong trường hợp ít nghiêm trọngthì mức hình phạt cao nhất được giảm đi một cách đáng kể (đến 07 năm đối với Điều 115, 116 BLHS năm 2015; đến 10 năm đối với Điều 119 BLHS năm 2015; đến 15 năm đối với các Điều 110, 114 BLHS năm 2015) nếu xét theo phân loại tội phạm thì các trường hợp đó thể thuộc tội phạm nghiêm trọng, tội phm đặc biệt nghiêm trọng

vậy, tình tiết phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọngchỉ áp dụng đối với các tội phạm nhà làm luật không quy định tình tiết định tội hoặc định khung hình phạt.

4. Người phạm tội tự thú (điểm r khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015): 

Như đã phân tích đặc điểm của nh tiết giảm nhẹ TNHS thuộc mặt chủ quan, thì thấy rằng để xem xét một tình tiết có thuộc o tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc mặt chủ quan hay không, phải xem xét các yếu tố thuộc mặt chủ quan của tội phạm. Trước hết phải hiểu tự thú

Trước khi ra đời BLHS năm 1999, tự thú đầu thu không phân biệt được hiểu chung trên một thuật ngữ tự thú. Điều đó nghĩa khái niệm tự thú được hiểu theo nghĩa rộng, bao gồm cả đầu thú. Nhưng kể từ sau khi BLHS năm 1999 hiệu lực, xét thấy việc người phạm tội tự thú đầu thú đều được áp dụng tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 Điều 46 BLHS năm 1999 không công bằng nên Chánh án Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành công văn số 81/2002/TANDTC ngày 10/6/2002 trong đó phân biệt ràng trường hợp áp dụng đầu thú tự thú khác nhau

Pháp luật hiện hành đưa ra khái niệm tự thú được quy định cụ thể tại điểm h khoản 1 Điều 4 Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015 như sau: Tự thú việc người phạm tội tự nguyện khai báo với cơ quan, tổ chức về hành vi phm tội của mình trước khi tội phạm hoặc người phạm tội bị phát hiện. Bộ Luật ttụng hình sự năm 2015 đã sự thay đổi, bổ sung khái niệm về tự thú cụ thể hơn so với trước đây. Sự thay đổi này hợp cần thiết bởi lẽ theo cách hiểu trước đây thì tự thú chỉ được thừa nhận khi quan chức năng chưa biết việc phạm tội người phạm tội. Vấn đề đặt ra là nhất thiết tự thú phải được hiểu bao gồm đủ hai yếu tố: việc phạm tội chưa bị phát hiện người phạm tội chưa bị phát giác. Trong thực tiễn, trường hợp việc phạm tội đã bphát hiện nhưng quan chức năng không tìm được thủ phạm. Trong bối cảnh ấy, một người đã tự nguyện thừa nhận tội lỗi đã thực hiện thì được coi tự thú không? Thực tế việc phát hiện một tội phạm xảy ra thường khá dễ dàng do những tác hại gây ra. Nhưng không phải ván nào cũng xác định được người thực hiện tội phạm. Trong trường hợp quan trách nhiệm chưa phát giác ra người phạm tội thì khả ng trốn tránh pháp luật khá cao, đặc biệt xảy ra ván không nhân chứng, ít để lại dấu vết tại hiện trường

Như thế, khi xét yếu tố chủ quan của tội phạm thể thấy trong hoàn cảnh như vậy tự nhận mình người phạm tội tức xuất phát từ ý chí nhận thức của bản thân người phạm tội cũng thhiện tâm lý đặc bit của người tự thú: tự mình nhận tội và khai ra hành vi phạm tội của mình, trong khi chưa ai phát hiện được mình phạm tội. Hoặc trường hợp bị bắt, bị phát hiện về một hành vi phạm tội cụ thể, nhưng trong quá trình điều tra vẫn tự mình nhận tội khai ra những hành vi phạm tội khác của mình chưa bị phát hiện, thì cũng được coi là tự thú đối với việc tmình nhận tội khai ra những nh vi phm tội của mình chưa bị phát hiện. Thái độ hối lỗi u sắc, tự nguyện nhận trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình trong điều kiện chưa một sự tác động đặc biệt nào từ phía nhà nước cho thấy nhân tố tích cực hướng thiện của người phạm tội. Đồng thời, qua đây thể thấy xuất phát từ ý thức nhận thức bên trong của bản thân người phạm ti đã phát sinh ra hành động biểu hiện ra bên ngoài. Đây chính tình tiết thuộc mặt chủ quan để xem xét giảm nhẹ TNHS. Song cũng một trong những tình tiết để xem xét miễn giảm TNHS (trường hợp người phạm ti tự thú nhưng chưa đạt đến mức miễn TNHS thì được coi tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm c khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015)

Cần phải phân biệt giữa khái niệm đầu thú tthú. Khái niệm đầu thú được quy định tại đim i khoản 1 Điều 4 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015theo đó Đầu thú là việc người phạm tội sau khi bị phát hiện đã tnguyện ra trình diện khai báo với quan thẩm quyền về hành vi phạm tội của minh. Đối với trường hợp đầu thú cũng được sửa đổi, bổ sung hợp bởi công n 81/2002/TANDTC quy định đồng thời hai điều kiện: người đã biết mình phạm tộibiết không thể trốn tránh được nên đến quan thẩm quyền trình diện” để đánh giá người phạm tội đầu thú. Nếu áp dụng như vậy, sẽ một trường hợp bất cập: Gia người thực hiện tội phạm đã bị người khác phát hiện ra hanh vi của mình, tuy nhiên người đó đủ thời gian điều kiện để trốn tránh nhưng lại không bỏ trốn và đến quan chức năng trình diện, khai o thì sẽ áp dụng rất khó trên thực tế. thể thấy được rằng, người thực hiện hành vi tội phạm biết bản thân đã bị phát hiện , đương nhiên sẽ không được xem tự thúnếu ra trinh diện, nhưng xét theo hướng dẫn thì trường hợp đó cũng không được xem đầu thúngười này hn toàn thể lẩn trốn đối với hành vi ca minh. Song, sau khi đầu thú người phạm tội cũng phải khai báo với quan có thẩm quyền về hành vi phạm tội của minh. Chính thế, nếu người phạm tội sau khi bị phát hiện đã trinh diện quan thẩm quyền nhưng lại không thành khẩn khai báo thì skhông được áp dụng tình tiết giảm nhẹ này

Đầu thú tự thú những trường hợp ăn n hối cải xuất phát từ ý chí của người phạm tội hoặc từ các yếu tố khách quan khác .Về bản chất, tthú việc ngưi phạm tội chấp nhận strừng phạt của pháp luật hơn sự trừng phạt của tòa án lương tâm chưa bị quan thẩm quyn phát hiện? Đây chính sở thực tế tạo tiền đề cho một sự tự nguyện phục thiện dưới sự tác động bình thường ca hội. Trường hợp sau khi trốn tranh pháp luật mới ra trình diện (đầu thú) đthể hiện việc nhìn nhận tội lỗi của minh chmột mức độ nhất định. vậy, không thể xếp hai trường hợp này thành một. Cần phải nhìn nhận các trường hợp này thông qua đây có thể biết được chính xác giá trị giảm nhẹ TNHS của mỗi tỉnh tiết đảm bảo một đường lối xử thích hợp đối với những người tự thú, đầu thú. Với bản chất đó, tự thú tình tiết giá trị giảm nhẹ TNHS cao n so với đầu thú. Tâm đặc biệt của người phạm tội trong trường hợp này phát sinh từ ý chí nhận thức của người phm tội trên phương diện mặt chủ quan của tội phạm, quyết định trực tiếp đến tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc mặt chquan hay không. 1.2.5. Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải (điểm s khoản Điều 51 BLHS năm 2015

Tuy cùng được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 nhưng thành khẩn khai báo ăn năn hối cải nội dung khác nhau, độc lập với nhau trong nhiều trường hợp nó không có liên quan đến nhau. Có quan điểm cho rằng tại điểm d khoản 1 Điều 3 BLHS năm 2015 quy định: Khoan hồng đối với người tự thú, đầu thú, thành khẩn khai báo, tố giác đồng phạm, lập công chuộc tội, tích cực hợp tác với cơ quan trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án, ăn năn hối cải, tự nguyện sửa chữa hoặc bồi thường thiệt hại gây ranên thành khẩn khai báoăn năn hối cảihai tình tiết độc lập nhau. Do đó, theo quan điểm tác giả đồng tình với quan điểm trên coi điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 đã quy định hai tình tiết giảm nhẹ trong cùng một điểm. Nếu người phạm tội vừa thành khẩn khai báo vừa ăn năn hối cải thì phải coi người phạm tội hai tỉnh tiết giảm nh. Tùy trưng hợp xét mặt khách quan hay chủ quan hay yếu tố về nn thân, thể c định được đây tinh tiết thuộc mặt nào

Theo Từ điển tiếng Việt thì thành khẩnnghĩa hết sức thành thật trong khi khai báo, nhận lỗi hay tự phê bình tiếp thu phê bình, còn “ăn nănnghĩa cảm thấy day dứt, đau khổ về lỗi lầm của mình. Về mặt tâm , khi một người thái độ thành khẩn thì họ phải sự suy nghĩ, đánh giá, nhận thức lỗi lầm của mình để thể khai báo được một cách trung thực sự việc đã xảy ra. Ssuy nghĩ, đánh giá, nhận thức này chính một biểu hiện của sự ăn năn. Nếu họ không ăn năn về lỗi lầm của mình tkhông thể thái độ thành khẩn được. Việc cho rằng một người khai báo đầy đủ nhưng li không biết hành vi của mình tội phạm hoặc biết hành vi của mình tội phạm nhưng lại cho rằng mình không sai thì không thể nói tnh khẩn được chưa sự suy nghĩ, đánh giá, nhận thức lỗi lầm của mình. Đây mới chỉ sự khai báo đúng đắn về hành vi của mình chứ chưa sự thành khẩn, tức chỉ mới thànhchưa khẩn

Bên cạnh đó, chúng ta cũng cần phải nhận thức được cách hiu của nhà làm luật khi ng dấu phảy giữa thành khẩn khai báoăn năn hối cải. Trong BLHS m 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), nhà làm luật dùng dấu phảy giữa thành khẩn khai báoăn năn hối cải. Đến BLHS năm 2015, nhà làm luật lại ng chữ hoặcgiữa thành khẩn khai báoăn năn hối cải. Tuy nhiên, đến BLHS năm 2015, nhà làm luật lại quay lại ng dấu phảy giữa thành khẩn khai oăn năn hối cảinhư BLHS năm 1999. Khi ng chữ hoặc, nhà làm luật muốn nhấn mạnh đến việc thành khẩn khai báoăn năn hối cảihai khái niệm không liên quan đến nhau và được sdụng độc lập. Nhưng khi xem xét trong cùng một điều luật, tác giả thấy rằng trong BLHS năm 2015 cũng nhiều quy định được xây dựng theo cách dùng chữ hoặcnhằm nhấn mạnh đến tính độc lp khi sử dụng, chẳng hạn: Người phạm tội đã ngăn chặn hoặc làm giảm bớt tác hại của tội phạm(điểm a khoản 1 Điều 51). Việc BLHS năm 2015 không dùng chữ hoặclại ng dấu ,giữa thành khẩn khai báoăn năn hối cảiđã cho thấy cũng thể nhà làm luật không tách rời độc lập hại tình tiết thành khẩn khai báoăn năn hối cảimà muốn nhấn mạnh đây là hai nh tiết liên quan chặt chvới nhauhỗ trợ cho nhau và người phạm tội chỉ thể được hưởng tình tiết này khi thỏa mãn đồng thời cả thành khẩn khai báoăn năn hối cải. Điều này hoàn toàn phù hợp với ý nghĩa của từ ngữ được sử dụng để quy định tình tiết như đã phân ch nêu trên

  • Thành khẩn khai báo 

Trong thực tiễn xét xử, thành khẩn khai báo được hiểu trường hợp tội phạm đã bị phát giác nhưng khi điều tra, xét xử, người phạm tội tự nguyện khai báo xuất phát từ ý chí nhận thức của chính bản thân người phạm tội và nhận ra tội lỗi. Thành phần khai báo cũng một dạng của tự thú nhưng khác với tự tchỗ thành khẩn khai báo là việc thừa nhận hanh vi phạm tội khai rõ sự việc được thực hiện sau khi phạm tội đã bị phát giác người phạm tội đã bị truy tố trước pháp luật26 .Theo quy định của pháp luật tố tụng, khai báo không phải là nghĩa vcủa bị can, bị cáo nga vụ chwusng minh tội phạm thuộc về quan thẩm quyền tiến hành tố tụng (Điều 15 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015). Do đó, bị can, bị cáo không thật thà khai báo cũng sẽ không bị coi tinh tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nhưng nếu thành khẩn khai báo thì được coi tình tiết giảm nhẹ TNHS. Pháp luật khuyến khích người phạm tội thành khẩn khai báo và coi đây tinh tiết giảm nhTNHS bởi việc khai báo thành khẩn thể giúp cho quan pháp lut nhanh chóng kịp thời phá án, buc những người phạm tội phải chịu TNHS về tội phạm họ thực hiện

Trên thực tế, đối với trường hợp sự thay đổi thái độ thành khẩn khai báo của người phạm tội trong quá trình tố tụng thì việc áp dụng tinh tiết giảm nhẹ, cụ thể như sau: trường hợp người phạm tội thành khẩn khai báo tại giai đoạn điều tra nhưng lại quanh co chối tội tại phiên tòa hoặc trường hợp tại quan điều tra, người phạm tội chưa thành khẩn khai báo nhưng khi ra phiên tòa họ lại thành khẩn thừa nhận tội phạm họ đã thực hiện. Theo quan điểm của tác giả, trường hợp này chỉ áp dụng đối với bị cáo thành khẩn khai báo trước khi kết thúc xét xử thẩm, phúc thẩm vụ án hình sự. Nếu người phạm tội tại giai đoạn điều tra, truy tố đều thành khẩn khai báo nhưng tại giai đoạn xét xử lại quanh co, chối tội thì ng không được hưởng tình tiết giảm nhTNHS này. Nếu người phạm tội khi xét xử thẩm không thành khẩn khai o do đó không được hưởng tình tiết giảm nhẹ này nhưng tại phiên tòa xét xử phúc thẩmngười phạm ti tnh khẩn khai báo thì vẫn cho hưởng tình tiết giảm nhẹ này. Song cũng quan điểm cho rằng trong quá trình tố tụng những nguyên nhân khác nhau người phạm tội thể thay đổi thái độ thành khẩn khai báo. Tuy nhiên, việc thành khẩn khai báo ở giai đoạn tố tụng nào cũng tác dụng tích cực nhất định cho quá trình điều tra, xét xử. Đánh giá giá trị giảm nhẹ của tình tiết này không thể đơn thuần nhìn vào thời điểm của sự thành khẩn giai đoạn nào trong tố tụng, điều tra hay t xửphải căn cvào ảnh hưởng của việc khai báo thành khẩn đến hiệu quả của hoạt động điều tra, xét xử27. đây, tác giả cũng đồng thuận với quan điểm này. Việc người phm tội thành khẩn khai báo càng sớm trong giai đoạn ttụng cũng phần nào thể hiện sự ăn năn hối cải của người phạm tội với hành vi mình gây ra. Đồng thời, việc khai báo thành khẩn cũng phải gtrị nhất định đến hiệu quả của hoạt động điều tra, xét xử thì mới tạo sở để giảm nhẹ TNHS cho người phạm tội

Tóm lại, thành khẩn khai báo trường hợp người phạm tội trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã khai đầy đủ đúng sự thật tất cả những liên quan đến hành vi phạm tội họ đã thực hiện xuất phát từ ý chí nhận thức của chính bản thân người phạm tội dẫn đến hành động trên thực tế được xét thuộc vào yếu tố chủ quan của tội phạm, dẫn đến đây tình tiết được xem là tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc mặt chủ quan của tội phạm. Nhưng trong trường hợp người phạm tội sau khi bị phát hiện không khai o thành khẩn phải đấu tranh, khai thác, không thể chối cãi được mới nhận tội thì không được coi là thành khẩn khai báo để giảm nhẹ TNHS. thể thấy việc khai báo này của họ không xuất phát từ việc hnhận thức lỗi lầm của mình chỉ là sxác nhận về nội dung của sự việc đã xảy ra theo những quan thẩm quyền tiến hành tố tụng đã chứng minh, thu thập được. Thực tiễn xét xử cho thấy đã không ít tòa án nhận định trong bản án mặc tại quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm bcáo không nhận tội nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo đã nhận tộiđể giảm nhẹ hình phạt cho bị o không phù hợp bởi lẽ bị cáo chỉ thừa nhận hành vi của mình khi không còn đường lui tức là không thể chối cãi được nữa

dụ: Nguyễn Văn A (A) phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản trị giá 300 triệu đồng theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 104 BLHS năm 2015. Trước khi xét xử thẩm, A đã nộp 100 triệu đồng để bồi thường cho bị hại nên được hưởng nh tiết giảm nhẹ là tự nguyện bồi thường thiệt hại. Ngoài ra, A không được hưởng nh tiết giảm nhẹ nào khác nữa nên Tòa án cấp thẩm phạt A 9 năm . Khi xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xử lại xác định bị cáo A thêm một tình tiết giảm nhẹ TNHS thành khẩn khai báo nhưng thực tế trong suốt quá trình điều tra, bị cáo A chưa từng bằng ý chí của mình để thừa nhận hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cho rằng đó chỉ hợp đồng kinh tế sự thỏa thuận giữa bị cáo người bị hại, tức chưa nhận ra hành vi sai phạm của mình. Tại phiên tòa thẩm, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát đã chứng minh bác bỏ lời bào chữa của Luật bào chữa cho bị cáo. Trước khi nghị án, bị o biết nh không thể chối cãi được nữa nên mới thừa nhận hành vi phạm tội xin được giảm nhnh phạt. Sau khi xét xử thẩm, bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Khi xét xử phúc thẩm, bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Khi xét xử phúc thẩm, Hội đồng xét xphúc thẩm cho rằng bị cáo đã nhận tội chứng tỏ đã thành khẩn khai báo nên đã áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ Người phạm tội thành khẩn khai ođể áp dụng theo khoản 1 Điều 54 BLHS năm 2015 phạt bị cáo A 05 năm (dưới mức thấp nhất của khung hình phạt). Việc tòa án cấp phúc thẩm áp dụng tình tiết giảm nhẹ này thể không sai nhưng xét cả quá trình tkhi bị truy tố đến giai đoạn xét xử phúc thẩm, mức đkhai o của người phạm tội không đáng kể, chỉ khi quan tiến hành tố tụng đã đủ bằng chứng chứng minh hành vi phạm tội của bcáo thì bị o mới nhận tội. Song, việc tòa án cấp phúc thẩm căn cứ vào sự thành khẩn muộn màng này của bị cáo để áp dụng khoản 1 Điều 54 BLHS năm 2015 xphạt cho bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cho bị cáo ràng không đúng

Còn trường hợp khi bắt người phạm tội quả tang, tuy hành vi của người phạm tội đã rõ nhưng vẫn chưa được chi tiết, cụ thể cần phải tiến hành thêm nhiều biện pháp khác để thể giải quyết ván được khách quan, toàn diện. Nếu người phạm tội khai báo đầy đủ, cụ thể, ràng, ăn năn về hành vi phạm tội của mình thì sẽ giúp quan thẩm quyền tiến nh tố tụng nhanh chóng giải quyết vụ án trong thời gian ngắn nhất. Chẳng hạn người phạm tội khai báo cụ thể về nhân thân của họ (tiền án, tiền sự, gia đình...), khai báo cụ thể về những đồng phạm khác, khai báo cụ thể về những hành vi phạm tội khác của mìnhhay khai báo về động , mục đích dẫn đến hành vi phạm tội của mình... thì trường hợp này theo tác giả cho rằng họ vn được hưởng tình tiết giảm nhẹ TNHS

Khi xét về mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình stùy thuộc vào sự thành khẩn của người phạm tội giai đoạn tố tụng nào ý nghĩa thiết thực của lời khai thành khẩn đó với việc xác định hành vi phạm tội của họ cũng như của các đồng phạm (nếu vụ án đồng phạm). Khi xem xét mức độ thì mới thể xét xem tình tiết này tình tiết giảm nhẹ TNHS theo yếu tố chủ quan của tội phạm hay không

  • Ăn năn hối cả

Ăn năn hối cải là trường hợp sau khi phạm tội, người phạm tội cảm thấy bị cắn rứt, giày vò lương tâm vnhững việc làm của mình; hối hận muốn được sửa chữa lỗi lầm28. Người phạm ti ăn năn hối cải không chỉ được thể hiện bằng lời nói mà còn bằng những hành động tích cực chấp hành pháp luật, gương mẫu trong mọi lĩnh vực, sinh hoạt của đời sống xã hội, hối hận với hành vi phạm tội của mình, thái độ tích cực khắc phục hậu quả, sữa chữa những sai lầm do mình gây ra. sở giảm nhẹ TNHS của tình tiết này thể hiện thái độ tự nguyện, nhìn nhận tội lỗi, sẵn sàng chấp nhận sự trừng phạt của pháp luật, tức xuất phát từ chính sự thay đổi nhận thức ý chí của người phạm tội, thuộc mặt chquan của tội phạm. Đây chính tiền đề quan trọng cho quá trình cải tạo người phm tội. Thái độ tích cực của người phạm tội cũng làm tiền đề để quan áp dụng pháp lut tin tưởng vào khả năng thực tế về việc cải hóa người phạm tội

Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tình tiết này phụ thuc vào mức độ ăn năn hối cải của người phạm tội, những thành tích người phạm tội đã đạt được, thành tích càng nhiều, lập công lớn thì sở để xem xét mức đố giảm nhẹ TNHS. Tuy nhiên, cũng cần đề phòng trường hợp người phạm tội giả vờ ăn năn hối cái để được khoan hồng rồi tiếp tục phạm tội vì khi xem xét mức độ thì mới thể xét xem tình tiết này tình tiết giảm nhẹ TNHS theo yếu tchquan của tội phạm hay không

6. Người phạm tội tích cực hợp tác với cơ quan có trách nhiệm trong việc phát hiện tội phạm hoặc trong quá trình giải quyết vụ án (điểm t khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015): 

Tích cực hợp tác chính việc tích cực giúp đỡ các quan trách nhiệm phát hiện điều tra tội phạm. Xuất phát từ ý chí nhận thức của người phạm ti để biểu hiện ra thái độ chủ động, giúp đỡ nhằm tạo ra những sự biến đổi, thay đổi nhanh hơn trong việc phát hiện điều tra tội phạm

Tích cực hợp tác với quan trách nhiệm phát hiện điều tra tội phạm là việc người phạm tội đã cung cấp những tin tức, tài liệu, bằng chứng ý nghĩa thiết thc cho việc phát hiện điều tra tội phạm. Ngoài việc cung cấp tin tức, người phm tội bằng những hành động thiết thực của mình đã giúp quan điều tra phát hiện điều tra tội phạm như chỉ nơi cất giấu tang vật, chỉ nơi những người phạm tội khác đang trốn tránh, cùng quan điều tra đến nơi cất giấu tang vật để thu hồi; cung cấp thông tin về tội phạm khác, người phạm tội khác không liên quan đến mình..

Thái độ tích cực hợp tác với quan trách nhiệm để phát hiện tội phạm đã thhiện snhận thức tích cực về tội lỗi người phạm tội cùng đồng bọn đã thực hiện hành vi phạm tội. Mặt khác shợp tác đó giúp quan trách nhiệm nhanh chóng tìm ra tội phạm những người phm tội khác bảo đảm cuộc sống an lành cho hội. Đó một hoạt động hữu ích cần được khuyến khích, phải được tính tới trong quá trình giải quyết TNHS đối với người phạm tội sở giảm nhẹ TNHS của tình tiết y. Theo quy định của pháp luật hình sthực tiễn áp dụng thì tình tiết này thể kết hợp với nh tiết tự thú để được hưởng một giá trị giảm nhẹ đặc biệt về TNHS (miễn trách nhiệm hình stại điểm c khoản 2 Điều 29 BLHS năm 2015)

Mức độ giảm nhẹ TNHS của nh tiết y phthuc o nh chủ động tức tùy theo hành động trên thực tế của người phạm tội xuất phát tý chí và nhận thức của người phm tội, mức độ tích cực giúp đỡ cụ thể; giá trị của những thông tin, tài liệu, bằng chứng người phạm tội đã cung cấp, hiệu quả của những hành vi giúp đỡ của người phạm tội sẽ quyết định

Thông qua phân tích, thể thấy rằng nếu hành động phát sinh trên thực tế của người phạm tội xuất phát từ chính nhận thức ý chí của họ thì đây được xem xét yếu tố thuộc mặt chủ quan của tội phạm quyết định đến việc tình tiết này được xem tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc mặt chủ quan hay không.

7. Người phạm tội đã lập công chuộc tội (điểm u khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015): 

Người phạm tội đã lập công chuộc tội được hiu trường hợp sau khi thực hiện tội phạm cho đến trước khi bị xét xử thẩm, phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm), người phạm tội không những ăn năn hối cải, tích cực giúp đỡ các cơ quan trách nhiệm phát hiện, điều tra ti phạm do họ thực hiện họ còn nhng hành động giúp đcác quan thẩm quyền phát hiện, ngăn chặn các tội phạm khác, tham gia phát hiện tội phạm, bắt kẻ phạm tội, hành động thể hiện squên mình lợi ích của Nhà nước, của tập thể, quyền lợi ích chính đáng của người khác... được quan có thẩm quyền khen thưng hoặc chng nhn29 

sở giảm nhẹ TNHS của tình tiết này thể hiện thái độ hối lỗi người phạm tội, không dừng lại mức độ tự mình ăn năn hối cải còn biến sự hối lỗi đó thành hành động tích cực ích cho hội. Đây được coi như một sự tiến bộ về mức độ phục thiện của người phạm tội để người phạm tội thành người ích cho hội, ý thức tuân thủ pháp luật quy tắc của cuộc sống chung. Việc lập công này thể liên quan trực tiếp đến việc giúp đỡ quan thẩm quyền điều tra tội phạm hoặc liên quan đến một hoạt động hữu ích khác như thành tích trong cứu hỏa, chống o, lụt hoặc trong việc cứu người trong tình trạng nguy hiểm đến tính mạng... nh động tích cực đáng hoan nghênh nhằm chuộc lại phần nào lỗi lầm họ đã gây ra thể hiện sự hối lỗi quyết tâm cải tạo của người phạm tội

Mức độ giảm nhẹ phụ thuộc vào công trạng của người phạm tội việc lập công chuộc tội đó giai đoạn tố tụng nào (thành tích đạt được và mức độ tích cực của người phạm tội cụ thể). Người phạm tội thậm chí còn thể được miễn trách nhiệm nh sự nếu nhọ lập được công lớn tội phm do họ gây ra chỉ tội ít nghiêm trọng hoặc tội nghiêm trọng do 1 vô ý (điểm c khoản 2 Điều 29 BLHS năm 2015). Yếu tố chủ quan thuộc về người phạm tội tình tiết này rất quan trọng, quyết định đến việc xem xét đây phải tình tiết để giảm nhẹ TNHS thuộc mặt chủ quan hay không. 1.2.8. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khác thuộc mặt chủ quan (khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015

Khoản 2 mở rộng thêm tình tiết đầu thú tình tiết khác (phụ thuộc vào ý chí ca Tòa án phải ghi trong bản án), Khoản 3 trường hợp không được coi hay nói đúng hơn không áp dụng tình tiết giảm nhẹ

Trước đây, BLHS năm 1999 quy định khoản 2 Điều 46 như sau: Khi quyết định hình phạt, Toà án còn thể coi các tình tiết khác tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi trong bản án. Kế thừa tinh thần của BLHS năm 1999, BLHS 2015 quy định khoản 2 Điều 51 với nội dụng giữ nguyên tinh thần của BLHS m 1999, cụ thể: Khi quyết định hình phạt, Tòa án thể coi đầu thú hoặc tình tiết khác tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi do giảm nhẹ trong bản án

So với quy định tại Bộ Luật hình sự thì nhà làm luật đã thêm một gợi ý cho Tòa khi quyết định các tình tiết giảm nhẹ khác với quy định tại Khoản 1 đó đầu thú. Như tác giả đã dịp đề cập đến trong phần bình luận các 

phần trước, đầu thú thể hiu người thực hiện hành vi phạm tội đã tự nhận hành vi phạm tội của mình sau khi hành vi đó đã bị phát hiện nhưng người phạm ti đó vẫn chưa bị bắt giữ. Đầu thú hoàn toàn không giống với tự thú và do đó chỉ thể được xem là nh tiết giảm nhẹ chứ không thể là tình tiết được miễn trách nhiệm hình sự. đây một gợi ý không htồi để Tòa án căn cứ quyết định hình phạt xem đó một tình tiết giảm nhẹ. Tuy nhiên tình tiết này bắt buộc phải được ghi do trong bản án chứ không đương nhiên là nh tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 1

Ngoài đầu thú, Tòa án cũng được quyền xem xét các tình tiết khác tình tiết giảm nh(không bị giới hạn) nhưng với điều kiện phải ghi do giảm nhẹ trong Bán án. Tuy nhiên những tình tiết khác đây những tình tiết o, bắt buộc phải đảm bảo các tiêu chí nhất định hay không ttrong phạm vi Bộ Luật Hình skhông hề quy định. Tuy nhiên, theo hướng dẫn tại Nghị quyết 01/2000/NQHĐTP thì các tình tiết sau đây được coi các tình tiết giảm nhẹ khác

Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị o người công với nước hoặc thành tích xuất sắc được Nnước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ ưu , nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu , thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước

Bị cáo thương binh hoặc người thân thích như vợ, chồng, cha, mẹ, con (con đẻ hoặc con nuôi), anh, chị, em ruột liệt sỹ

Bị o người tàn tật do btai nạn trong lao động hoặc trong công tác, tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên

Người bị hại cũng lỗi, Thiệt hại do lỗi của người thứ ba

Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hi thay cho bị cáo

Người bị hi hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại vsức khoẻ của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản; 

Phạm tội trong trường hợp phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu

Ngoài ra, khi xét xử, tutừng trường hợp cụ thể hoàn cảnh cthể của người phạm tội còn thể coi các nh tiết khác là nh tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi trong bản án. Các trường hợp được liệt trên là những nh tiết giảm nhẹ TNHS chung, nhưng tùy từng trường hợp thể xác định chính xác tình tiết đó thuộc vào mặt chủ quan của tội phạm để xem xét tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc mặt chủ quan hay không

Như vậy thể thấy đây một quy định mở trao quyền cho Tòa án rất lớn, chính vì vậy phần nào ng sẽ dẫn đến những ý chí chủ quan khi xét xử các Tòa, các cấp khác nhau.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo