Thế nào là phòng vệ chính đáng? Đặc điểm, ý nghĩa chế định này?

Phòng vệ chính đáng là hành vi nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của bản thân hoặc của người khác, bảo vệ lợi ích Nhà nước, xã hội, tổ chức mà chống trả lại một cách hợp lý người đang có, đe doạ ngay lập tức sẽ có hoặc có căn cứ chắc chắn sẽ có hành vi xâm hại những lợi ích trên.

CÔNG TY LUẬT TNHH DƯƠNG GIA

Trụ sở chính: 89 Tô Vĩnh Diện, phường Khương Đình, Hà Nội.

Chi nhánh Đà Nẵng: 141 Diệp Minh Châu, phường Hoà Xuân, Đà Nẵng.

Chi nhánh TPHCM: 161A Đào Duy Anh, phường Đức Nhuận, TPHCM.

Tổng đài tư vấn pháp luật: 1900.6568

Số điện thoại Luật sư: 037.6999996

Email: luatsu@luatduonggia.vn

1. Phòng vệ chính đáng là gì: 

Phòng vệ chính đáng một trong các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình s. nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm cũng như thành phần của các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự, tuy nhiên đều thống nhất rằng, phòng vệ chính đáng một tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự. Chế định phòng vệ chính đáng được xây dựng dựa trên chính sách của Nhà nước khuyến khích mọi nhân trong hội tham gia chống lại hành vi xâm phạm hoặc đe doạ xâm phạm ngay tức khắc các khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ. Việc chống lại những hành vi này sẽ giúp giảm thiểu ti đa những hậu qunguy hiểm cho hội, giúp ích cho công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Phòng vệ chính đáng tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự xảy ra phổ biến nhất trong thực tiễn xét xử, thể hiện ràng nhất sự ủng hộ của Nnước đối với các hành vi công dân chủ động đấu tranh phòng chống tội phạm

Nhiều nhà nghiên cứu khoa học các khái niệm cách hiểu khác nhau về phòng vệ chính đáng cũng như những điều kiện phòng vệ chính đáng.

GS. TSKH. Lê Văn Cảm đã đưa ra kết luận như sau:

Phòng vệ chính đáng hành vi chống trả của người phòng vệ để gây thiệt hi cho người đang hành vi xâm hại đến các lợi ích hợp pháp của mình hoặc của những người khác, cũng như của hội hay của Nhà nước, nếu hành vi chống trả tương xứng với hành vi xâm hại.

PGS. TS. Trịnh Tiến Việt định nghĩa phòng vệ chính đáng như sau

Phòng vệ chính đáng hành vi của một người bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của quan, tổ chức, của người khác chống trả lại một cách cần thiết người đang hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên, được coi là trường hợp không phải tội phạm người đó không phải chịu trách nhiệm hình sự.

PGS. TS. Trịnh Tiến Việt đưa ra các các điều kiện của phòng vệ chính đáng:

a) Có hành vi trái pháp luật đang xâm hại đến các lợi ích hợp pháp – cơ sở để phát sinh quyền phòng vệ chính đáng.

b) Hành vi xâm hại đến các lợi ích hợp pháp phải đang diễn ra, đang hiện hữu và có thật, chứ không phải do suy đoán tưởng tượng.

c) Hành vi phòng vệ chính đáng phải gây thiệt hại cho chính người đang có hành vi tấn công – nơi phát sinh nguồn nguy hiểm để bảo vệ các lợi ích hợp pháp.

d) Hành vi phòng vệ được coi là chính đáng, khi đó hành vi chống trả là cần thiết

Phòng vệ chính đáng xét về mặt hình thức đã đủ các dấu hiệu của tội phạm nhưng không được coi tội phạm. Thiệt hại xuất phát từ hành vi phòng vệ chính đáng phù hợp với yêu cầu chung của hội. Phòng vệ chính đáng không phải tội phạm là nh vi tự vệ trước hành vi trái pháp luật của người khác, nhằm mục đích ngăn ngừa, chống lại, hạn chế hậu quả nguy hiểm cho hội của hành vi vi phạm pháp luật đó gây ra. Do đó, hành vi phòng vệ chính đáng mc về mặt hình thức vẻ mang tính nguy hiểm cho xã hội, nhưng thực tế tính nguy hiểm đó đã bị loại trừ hành vi ấy hoàn toàn phù hợp với hội, đồng thời thể hiện ý thức trách nhiệm của công dân góp phần vào việc bảo vệ củng cố trật tự hội

Phòng vchính đáng là quyền của mỗi nhân nhưng không phải nghĩa vụ pháp lí. Họ thkhông sử dụng quyền đó những do khác nhau nhưng về mặt đạo đức, đòi hỏi một người phải những trách nhiệm riêng đối với những lợi ích chung trong hội, qua đó chống lại những hành vi vi phạm. Trong mỗi một nhân luôn mang thêm trách nhiệm đối với cộng đồng, với những người xung quanh, đây sợi dây liên kết giữa những nhân trong hội, do đó việc họ sử dụng quyền phòng vệ chính đáng khi thấy lợi ích hợp pháp của người khác bị xâm phạm ln luôn được tuyên dương, ủng hộ. Đối với những người chức vụtrách nhiệm bảo vệ lợi ích của Nhà nước hoặc của nhân thân thì đây trở thành nghĩa vpháp

Lịch sử lập pháp cho thấy chế định phòng vệ chính đáng đã được đề cập đến từ rất sớm, trước cả khi ban hành BLHS đầu tiên năm 1985. Để đảm bảo yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm, đảm bảo nhu cầu về an ninh trật tự lúc bấy giờ, Nhà nước đã ban hành nhiều luật, văn bản, sắc luật như: Luật số 103/SL/L.005 ngày 20/5/1957 đảm bảo quyền tự do thân thể và quyền bất khả xâm phạm đối với nhà , đồ vật, thư tín của nhân dân; Bản tổng kết số 452/SL ngày 10/6/1970 của TANDTC; Chỉ thị số 07/CT ngày 22/12/1983 về việc xét xử các hành xâm phm tính mạng hoặc sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoc trong khi thi hành công vụ,... Sau đó, trong lần pháp điển hoá đầu tiên của BLHS năm 1985, phòng vệ chính đáng được đưa vào BLHS tại Điều 13 như sau: Phòng vchính đáng hành vi bảo vlợi ích của nhà nước, của tập thể, bảo vệ lợi ích chính đáng của mình, của người khác chống trả lại một cách tương xứng người hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vchính đáng không phải tội phạm. Trải qua 4 lần sửa đổi bsung (28/12/1987, 12/8/1991, 22/12/1992 10/5/1997), chế định phòng vệ chính đáng không bị điều chỉnh. Như vậy, quy định ti Điều 13 BLHS năm 1985 đã được thực hiện suốt thời gian hiệu lực của BLHS này. Đến năm 1999, khi luật hình sự Việt Nam tiếp tục pháp điển hoá lần thứ 2, chế định phòng vệ chính đáng đã được quy định tại Điều 15 như sau

Phòng vệ chính đáng là hành vi của người bảo vệ lợi ích của Nhà nước, của tổ chức, bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của mình hoặc của người khác, chống trả lại một cách cần thiết người đang hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên.Phòng vệ chính đáng không phải là tội phạm

Nội dung bản của chế định vẫn tương tự như được quy định tại BLHS năm 1985, tuy nhiên đã những thay đổi nhằm đến bản chất ý nghĩa của chế định này (nội dung sẽ được đề cập trong phần sau của luận văn). Đến lần pháp điển hóa thứ 3 của luật hình sự Việt Nam năm 2015, tuy vấn đề phải sửa đổi, bổ sung năm 2017, nhưng chế định về phòng vệ chính đáng vẫn được đảm bảo tại Điều 22 BLHS: Phòng vệ chính đáng hành vi của người bảo vệ quyền hoặc lợi ích chính đáng của mình, của người khác hoặc lợi ích của Nhà nước, của quan, tổ chức chống trả lại một cách cần thiết người đang hành vi xâm phạm các lợi ích nói trên. Phòng vệ chính đáng không phải tội phạm

Nhà nước hội ủng hộ, khuyến khích nhân thực hiện quyền phòng vệ chính đáng để đảm bảo quyền lợi ích bản thân của hội, nhưng không nghĩa bmặc cho các nhân tự xử lẫn nhau, bởi chỉ Nhà nước mới có quyền xử những người vi phạm pháp luật. Do đó, phòng vệ chính đáng cũng những giới hạn, nếu không giới hạn, con người thể lợi dụng chế định này để thực hiện một hành vi phạm tội không phải chịu trách nhiệm hình sự. Giới hạn này luôn được đặt ra trong các điều luật của BLHS Việt Nam các thời kỳ, nếu trong BLHS năm 1985 các bản sửa đổi, bổ sung, giới hạn của phòng vệ chính đáng những chống trả tương xứngvới những hành vi vi phạm pháp luật thì tới BLHS năm 1999 và BLHS 2015, giới hạn của phòng vệ chính đáng đã đổi thành những chống trả cn thiết. Chỉ thể coi một hành vi phòng vệ chính đáng khi thể thoả mãn các điều kiện thể hiện sự phòng vệ chính đángphù hợp với lợi ích của hội

Hiện nay, bản trong khoa học hình scác quốc gia trên thế giới, trong đó Việt Nam đều thống nhất nội hàm khái niệm của phòng vệ chính đáng. Tuy nhiên, hai loi chống trả tương xứnghay cần thiết” đối với phòng vệ chính đáng còn đang được tranh cãi. nhân người viết đánh giá, hành vi phòng vệ chính đáng cần phải đáp ứng cả hai yêu cu hành vi chống trả tương xứngcần thiết. Tuy nhiên, cần xác định hành vi chống trả tương xứngkhông phải tương đương một cách máy móc như sau

Người phạm tội sử dụng công cụ, phương tiện, phương pháp , thì người phòng vệ cũng phải sử dụng công cụ, phương tiện, phương pháp tương tự, hoặc nghĩa thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người hành vi m hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại người xâm hại gây ra hoặc đe doạ gây ra. Cần hiểu những hành vi chống trả tương xứngnhững hành vi chống lại nh vi vi phạm pháp luật phạm vi tương tự như phạm vi của hành vi vi phm pháp luật. Tuỳ thuộc vào tính nghiêm trọng, tính nguy hiểm tính thể gây nguy hiểm của hành vi vi phạm pháp luật người chống trả phải sử dụng những biện pháp chống trả mức độ nguy hiểm tương đương. Không thể phòng vệ chính đáng khi chống lại một hành vi gây nguy hiểm ít cho hội bằng một hành vi gây nguy hiểm nhiều hoặc rất nhiều cho hội

Dưới góc độ khoa học luật nh sự, khái niệm phòng vệ chính đáng như sau

Phòng vệ chính đáng hành vi của một người nhằm bảo vệ quyền lợi ích của bản thân hoặc của người khác, bảo vệ lợi ích Nhà ớc, hội, tổ chức chống trả lại một cách hợp người đang , đe doạ ngay lập tức sẽ hoặc căn cứ chắc chn shành vi xâm hại những lợi ích trên, người thực hiện hành vi phòng vệ chính đáng được loại trừ trách nhiệm hình sự

2. Đặc điểm của phòng vệ chính đáng: 

Thứ nhất, sở để hành vi phòng vệ chính đáng hành vi xâm hại (hành vị sở) các khách thể được pháp luật hình sự được bảo vệ, hành vi phạm tội hoặc ràng tính chất nguy hiểm đáng kể cho hội. Hành vi nguy hiểm cho hội đó phải đang gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại thực sự ngay tức khắc cho những lợi ích (đã nêu) cần bảo vệ. Hành vi sở thể là nh vi m phạm tới các khách thể pháp luật hình sbảo vệ, nhưng cũng thể là những hành vi xâm phạm tới các khách thể các ngành luật khác bảo vệ. Trong một số trường hợp, hành vi sở có thể xảy ra trên thực tế, nhưng cũng thể không xảy ra chỉ lầm tưởngcủa người phòng vệ. Nhưng hành vi sở đó vẫn có thể được chấp nhận nếu trong trường hợp đó, đa số người nhận thức bình thường đều bị lầm tưởng như vậy

Thứ hai, phòng vệ chính đáng phải hành vi cn thiết, kng chnhằm mục đích tự vệ, loại bỏ hành vi xâm hại hoặc sđe dọa của hành vi xâm hại mà còn mục đích bảo vệ các lợi ích chung của hội. Đặc điểm này của phòng vệ chính đáng được sử dụng để xác định một nh vi có phải hành vi vượt quá giới hạn phòng vchính đáng hay không, không nghĩa thiệt hại do người phòng vệ gây ra cho người xâm hại phải ngang bằng hoặc nhỏ hơn thiệt hại do người xâm hại đe doạ gây ra hoặc đã gây ra cho người phòng vệ

Để xem xét hành vi phòng vệ của một người cần thiết hay không, vượt quá giới hạn cho phép hay kng thì phải xem xét toàn diện những tình tiết liên quan đến hành vi xâm phạm lợi ích hành vi phòng vệ đó như khách thể bị xâm hại; mức độ thiệt hại xảy ra hoặc thể xảy ra nếu không sử dụng hành vi phòng vệ; mức độ thiệt hại của hành vi phòng vệ gây ra nhằm ngăn chặn hành vi gây thiệt hại đến lợi ích chính đáng cần được bảo vệ; phương tiện, khí, phương pháp hai bên đã sử dụng trong tình huống; cường độ tấn công của người xâm hại lợi ích người png vệ; nhân thân của hai bên, hoàn cảnh, điều kiện nơi xảy ra sự việc

Sau khi xem xét hết đầy đủ và khách quan các yếu tố này trên hoàn cảnh thực tế xảy ra sự việc mới thể kết luận được sự cần thiết của việc đưa ra quyết định sử dụng hành vi bạo lực chống trả lại sự xâm hại lợi ích của bên png vệ cần thiết hay không, vượt quá giới hạn hay không

Sự cần thiết trong hành vi phòng vệ khác với sự tương xứng về hành vi, không nghĩa ngang bằng. Trong nhiều trường hợp hành vi phòng vệ không tương xứng với hành vi xâm phạm nhưng vẫn được coi là phòng vệ chính đáng. Cần thiết ở đây phải được hiểu theo nghĩa cần phải chống trả, không thể không chống trả trước hành vi xâm hại lợi ích của hội. Khi đã c định nh vi chống trả cần thiết thì thiệt hại gây ra cho người hành vi xâm phạm lớn hơn thiệt hại người hành vi xâm phạm gây ra cho người phòng vệ vẫn được coi phòng vệ chính đáng

Thứ ba, hành vi phòng vệ chính đáng có mức độ phù hợp với hành vi xâm hại tức không sự chênh lch quá đáng, quá mức giữa hành vi phòng vvới tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi đang xâm hại. Như đã trình bày, mặc nh vi phòng vệ không nhất thiết phải cân bằng một cách dập khuôn, máy móc với hành vi xâm phạm, nhưng hành vi phòng vệ, trong một phạm vi mức độ, không được sự quyết liệt hoặc gây ra một hậu quả qlớn so với hành vi xâm phạm. Trong một tình huống diễn ra nhanh, khẩn cấp như phòng vệ chính đáng, người phòng vệ cần bình tĩnh đưa ra những quyết định ngăn chặn chứ không phải những quyết định tấn ng

Thứ , phòng vchính đáng quyền của con người, họ không nghĩa vụ phải chống trả, chăng nghĩa vụ đây nghĩa vụ đạo đức. Việc chống trả hoàn toàn phù hợp với quy luật tự nhiên hội. Bất cứ con người nào đều quyền được sống đảm bảo về sức khe, do đó, việc chống trả lại một hành vi xâm phạm một cách cần thiết cũng tự trở thành một quyền con người. Bởi chỉ quyền không phải nghĩa vụ, do đó khi người khác bị tấn công, chúng ta thể lựa chọn chống trđbảo vệ họ hoặc bỏ đi, pháp luật không bắt buộc chúng ta phải bo vệ người khác, thậm chí bảo vệ bản thân mình

Thứ m, người thực hiện nh vi phòng vệ chính đáng thực hiện một hành vị ích cho hi, lợi ích của hội, trong đó lợi ích của mình nên phải y thiệt hại về sức khỏe hoặc tính mạng cho người đang nh vi tấn công xâm hại các lợi ích hợp pháp, do đó, hành vi của họ không bị coi tội phạm và người thực hiện không phải chịu TNHS được loại trừ TNHS

3. Ý nghĩa của phòng vệ chính đáng: 

Trên sở khái niệm phòng vệ chính đáng đã nêu, căn cứ vào các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam thực tiễn xét xử, thể rút ra ý nghĩa của chế định này như sau

Quy định phòng vệ chính đáng đã khuyến khích mọi ng n đấu tranh phòng, chống tội phạm, ngăn chặn những hành vi xâm hại đến lợi ích của nhân, tập thể của Nhà nước, góp phần phòng chống tội phạm một cách hiệu quả

Quy định phòng vệ chính đáng giúp xử người hành vi gây thiệt hại cho các chủ thể khác, qua đó trừng trị nhằm ngăn ngừa, hạn chế các hành vi vi phạm pháp luật, phòng vệ chính đáng một điều kiện loại trừ tính nguy hiểm cho hội tính trái pháp luật của hành vi khi đầy đủ các du hiệu pháp luật quy định, đồng thời góp phần bảo đảm công , công bằng trong hội

Quy định về phòng vệ chính đáng góp phần thực hiện tốt chính ch hình sự của Nhà nước nguyên tắc xử về hình sự trách nhiệm của công dân. Đặc biệt, còn góp phần xác định ranh giới giữa hành vi phạm tội với hành vi không phải là tội phạm, giữa trường hợp phải chịu trách nhiệm hình sự với trường hợp không phải chịu trách nhiệm hình sự, qua đó phát huy tính tích cực chủ động của người dân trong công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trước yêu cầu mới của đất nước.

Đội ngũ Luật sư, Chuyên viên của Luật Dương Gia

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Nguyễn Văn Dương

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đỗ Xuân Tựu

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đoàn Văn Ba

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Đinh Thuỳ Dung

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Vũ Thị Mai

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Nguyễn Đức Thắng

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Vũ Văn Huân

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Hoài Bão

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Văn Thư

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Thị Mỹ Hạnh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Luật sư Nguyễn Ngọc Anh

Trần Thị Minh Hà

Trần Thị Minh Hà

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Thị Ngọc Ánh

Nguyễn Hà Diễm Chi

Nguyễn Hà Diễm Chi

Trần Thị Kiều Trinh

Trần Thị Kiều Trinh

Phan Thanh Nhàn

Phan Thanh Nhàn

Trần Thị Bảo Ngọc

Trần Thị Bảo Ngọc

Gọi luật sư Gọi luật sư Yêu cầu dịch vụ Yêu cầu dịch vụ
Call Zalo