Trong thực tiễn đời sống hôn nhân, vợ chồng thường có nhu cầu lập di chúc chung để định đoạt khối tài sản chung cũng như bảo đảm ý chí thống nhất trong việc phân chia di sản cho con cái hoặc người thừa kế khác. Tuy nhiên, không ít người vẫn còn nhầm lẫn về thời điểm di chúc chung của vợ chồng phát sinh hiệu lực, đặc biệt trong trường hợp chỉ một bên vợ hoặc chồng qua đời. Vậy: Di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm nào?
Mục lục bài viết
1. Di chúc chung của vợ chồng có hiệu lực từ thời điểm nào?
Trước đây, Điều 668 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: Di chúc chung của vợ, chồng có hiệu lực từ thời điểm người sau cùng chết hoặc tại thời điểm vợ, chồng cùng chết.
Kể từ thời điểm Bộ luật Dân sự 2005 có hiệu lực đến nay không có thêm bất kỳ văn bản nào điều chỉnh về thời điểm có hiệu lực về vấn đề di chúc chung của vợ chồng.
Hiện nay, áp dụng theo quy định tại Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về hiệu lực của di chúc như sau:
- Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế;
- Di chúc không có hiệu lực toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp: Người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; hoặc cơ quan, tổ chức được chỉ định là người thừa kế không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
- Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực;
- Di chúc không có hiệu lực, nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế; nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực;
- Khi di chúc có phần không hợp pháp mà không ảnh hưởng đến hiệu lực của các phần còn lại thì chỉ phần đó không có hiệu lực;
- Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.
Như vậy: Bộ luật dân sự 2015 không có điều luật nào quy định về thời điểm có hiệu lực đối với di chúc chung của vợ chồng mà chỉ có quy định chung về thời điểm có hiệu lực của di chúc. Theo đó, thời điểm có hiệu lực của di chúc chung vợ chồng có thể được xác định như sau:
- Di chúc chung vợ chồng sẽ có hiệu lực một phần khi một trong hai bên qua đời;
- Phần di chúc có hiệu lực là phần di chúc có liên quan đến di sản của người đã chết;
- Phần còn lại chưa phát sinh hiệu lực đến khi nào cả 02 cùng qua đời thì di chúc sẽ có hiệu lực toàn bộ.
2. Di chúc chung của vợ chồng có được thực hiện khi một người còn sống không?
2.1. Di chúc chung có phát sinh hiệu lực ngay khi một người chết không?
Theo nguyên tắc chung của pháp luật dân sự, di chúc chỉ phát sinh hiệu lực từ thời điểm người lập di chúc chết (khoản 1 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015). Đối với di chúc chung của vợ chồng, cần đặt vấn đề trong mối tương quan giữa ý chí chung và tư cách chủ thể độc lập của từng người trong quan hệ thừa kế.
Về bản chất, di chúc chung của vợ chồng là sự thống nhất ý chí của hai chủ thể đối với việc định đoạt tài sản chung nhưng mỗi người vẫn là chủ thể độc lập đối với phần quyền sở hữu của mình trong khối tài sản đó. Do vậy, khi chỉ một bên vợ hoặc chồng qua đời, di chúc chung chưa thể làm phát sinh hiệu lực toàn bộ giống như trong trường hợp cả hai cùng qua đời, bởi ý chí của người còn sống vẫn đang tồn tại và chưa chấm dứt.
Nói cách khác, di chúc chung của vợ chồng không đương nhiên có hiệu lực đầy đủ ngay khi một người chết, ngoại trừ trường hợp trong di chúc có quy định rõ về việc thực hiện đối với phần di sản của người chết trước và việc đó không làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của người còn sống.
2.2. Quyền định đoạt tài sản của người còn sống:
Khi một bên vợ hoặc chồng qua đời, người còn sống vẫn là chủ sở hữu hợp pháp đối với phần tài sản thuộc quyền sở hữu của mình trong khối tài sản chung vợ chồng. Theo đó, người còn sống có đầy đủ các quyền của chủ sở hữu; trong đó bao gồm quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với phần tài sản này.
Khi đó, nếu cho phép di chúc chung phát sinh hiệu lực toàn bộ ngay khi một người chết thì vô hình chung sẽ hạn chế hoặc tước bỏ quyền định đoạt tài sản của người còn sống. Điều này không phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự cũng như chế độ tài sản của vợ chồng.
Chính vì vậy, pháp luật và thực tiễn áp dụng đều hướng đến cách hiểu rằng: Di chúc chung chỉ thực sự phát sinh hiệu lực đầy đủ khi cả hai vợ chồng cùng qua đời, ngoại trừ phần di sản riêng hoặc phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người đã chết mà có thể tách bạch rõ ràng để thực hiện trước mà không xâm phạm đến quyền của người còn sống.
2.3. Hệ quả pháp lý trong thực tiễn giải quyết tranh chấp:
Điều 6 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về vấn đề áp dụng tương tự pháp luật:
- Trường hợp phát sinh quan hệ thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật dân sự mà các bên không có thỏa thuận, pháp luật không có quy định và không có tập quán được áp dụng thì áp dụng quy định của pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự tương tự;
- Trường hợp không thể áp dụng tương tự pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 6 Bộ luật Dân sự 2015 thì áp dụng các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự quy định tại Điều 3 của Bộ luật Dân sự 2015, án lệ hoặc lẽ công bằng.
Trong thực tiễn xét xử, các tranh chấp liên quan đến di chúc chung của vợ chồng thường phát sinh khi người thừa kế yêu cầu chia di sản ngay sau khi một bên vợ hoặc chồng qua đời, căn cứ vào di chúc chung đã được lập trước đó. Tuy nhiên, quan điểm phổ biến của các Tòa án hiện nay là không chấp nhận việc thực hiện toàn bộ di chúc chung trong khi một người vẫn còn sống, đặc biệt đối với tài sản chung chưa được phân định rõ ràng. Tòa án thường xác định rằng:
- Di chúc chung chưa phát sinh hiệu lực toàn diện khi chỉ một người chết;
- Phần tài sản của người còn sống chưa phải là di sản thừa kế;
- Chỉ phần tài sản thuộc quyền sở hữu của người đã chết (nếu có thể xác định độc lập) mới có thể xem xét giải quyết theo quy định về thừa kế.
Từ đó có thể thấy, việc hiểu đúng hiệu lực của di chúc chung trong trường hợp một người còn sống không chỉ giúp bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người còn sống mà còn là cơ sở quan trọng để phòng ngừa tranh chấp thừa kế, bảo đảm sự ổn định trong quan hệ gia đình và xã hội.
3. Di chúc chung của vợ chồng được lập sau ngày 01/01/2017 có được pháp luật ghi nhận không?
Xét từ bản chất pháp lý của di chúc, Điều 624 Bộ luật Dân sự năm 2015 có nêu định nghĩa: Di chúc là sự thể hiện ý chí của cá nhân nhằm chuyển tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Quy định này nhấn mạnh đến yếu tố ý chí của cá nhân, nhưng không đồng nghĩa với việc buộc di chúc phải do một cá nhân duy nhất xác lập trong mọi trường hợp.
Bên cạnh đó, di chúc còn được thừa nhận là một dạng giao dịch dân sự. Theo Điều 116 Bộ luật Dân sự năm 2015: ”Giao dịch dân sự là hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự”.
Về bản chất, di chúc là hành vi pháp lý đơn phương thể hiện ý chí của chủ thể đối với tài sản thuộc quyền sở hữu của mình.
Từ cách tiếp cận này có thể thấy, pháp luật chỉ yêu cầu di chúc phải là sự thể hiện ý chí của chủ thể có quyền đối với tài sản mà không đặt ra giới hạn cứng nhắc rằng ý chí đó chỉ được tồn tại một cách đơn lẻ, tách biệt giữa các cá nhân. Đối với vợ chồng – những người có quan hệ hôn nhân hợp pháp và cùng xác lập quyền sở hữu chung đối với tài sản, thì việc thống nhất ý chí để định đoạt tài sản chung trong một văn bản di chúc là hoàn toàn phù hợp với bản chất của di chúc và giao dịch dân sự.
Nói cách khác, pháp luật dân sự hiện hành KHÔNG có bất kì quy định nào cấm vợ chồng lập di chúc chung. Việc thừa nhận khả năng tồn tại của di chúc chung của vợ chồng là cách hiểu hợp lý, phù hợp với tinh thần của Bộ luật Dân sự 2015 và đáp ứng nhu cầu thực tế trong đời sống hôn nhân gia đình.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


