Trong quá trình lập di chúc, nhiều người không chỉ quan tâm đến việc ai sẽ được hưởng di sản mà còn mong muốn giữ gìn tài sản cho gia đình, dòng họ lâu dài. Việc hạn chế quyền bán di sản liên quan trực tiếp đến quyền định đoạt tài sản, quyền sở hữu của người thừa kế cũng như ranh giới cho phép của pháp luật. Vậy: Lập di chúc nhưng không cho phép bán di sản được không?
Mục lục bài viết
- 1 1. Lập di chúc nhưng không cho phép bán di sản có được không?
- 2 2. Các trường hợp phổ biến lập di chúc không cho bán di sản:
- 2.1 2.1. Di sản dùng vào việc thờ cúng:
- 2.2 2.2. Di sản giao cho người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự:
- 2.3 2.3. Di sản gắn với truyền thống gia đình, dòng họ:
- 2.4 2.4. Di sản đang tranh chấp hoặc có nghĩa vụ tài sản kèm theo:
- 2.5 2.5. Cấm bán nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo di chúc:
- 3 3. Đã lập di chúc cho người khác, có được quyền bán tài sản nữa không?
1. Lập di chúc nhưng không cho phép bán di sản có được không?
Tại Điều 626 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về quyền của người lập di chúc như sau:
- Chỉ định người thừa kế; truất quyền hưởng di sản của người thừa kế;
- Phân định phần di sản cho từng người thừa kế;
- Dành một phần tài sản trong khối di sản để di tặng, thờ cúng;
- Giao nghĩa vụ cho người thừa kế;
- Chỉ định người giữ di chúc, người quản lý di sản, người phân chia di sản.
Như vậy, người lập di chúc có quyền thể hiện ý chí của bản thân trong việc phân định tài sản. Việc lập di chúc trong trường hợp không cho phép bán di sản sẽ được xem xét trên 02 trường hợp như sau:
1.1. Di sản là nhà đất dùng vào việc thờ cúng:
Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 645 Bộ luật Dân sự năm 2015:
- Trường hợp người lập di chúc để lại một phần di sản dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó không được chia thừa kế và được giao cho người đã được chỉ định trong di chúc quản lý để thực hiện việc thờ cúng;
- Nếu người được chỉ định không thực hiện đúng di chúc hoặc không theo thỏa thuận của những người thừa kế thì những người thừa kế có quyền giao phần di sản dùng vào việc thờ cúng cho người khác quản lý để thờ cúng. Trường hợp người để lại di sản không chỉ định người quản lý di sản thờ cúng thì những người thừa kế cử người quản lý di sản thờ cúng;
- Trường hợp tất cả những người thừa kế theo di chúc đều đã chết thì phần di sản dùng để thờ cúng thuộc về người đang quản lý hợp pháp di sản đó trong số những người thuộc diện thừa kế theo pháp luật;
- Trường hợp toàn bộ di sản của người chết không đủ để thanh toán nghĩa vụ tài sản của người đó thì không được dành một phần di sản dùng vào việc thờ cúng.
Do đó, trường hợp trong di chúc người để lại di sản thừa kế có thể hiện ý nguyện rõ ràng nhà, đất dùng vào việc thờ cũng thì khi đó, nhà và đất sẽ không được tiến hành chia thừa kế; cũng như người được chỉ định thực hiện quản lý nhà, đất sẽ không có quyền được chuyển nhượng, tặng cho…
1.2. Di sản không dùng vào việc thờ cúng:
Theo quy định tại điều 609 Bộ luật Dân sự năm 2015: Cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình; để lại tài sản của mình cho người thừa kế theo pháp luật; hưởng di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật. Người thừa kế không là cá nhân có quyền hưởng di sản theo di chúc.
Do vậy, việc ý chí người có di sản muốn để lại tài sản như thế nào khi họ qua đời là hoàn toàn có quyền và không ai có thể can thiệp vào việc đó.
Bên cạnh đó, theo quy định tại Khoản 4 Điều 626 Bộ luật dân sự năm 2015, trường hợp người lập di chúc hoàn toàn có quyền giao nghĩa vụ cho người thừa kế.
”Nghĩa vụ” ở đây nếu như người để lại di sản đặt ra là chỉ cho thừa kế nhưng không được phép bán đi thì cũng không vi phạm pháp luật bởi pháp luật không có cấm. Chỉ có trường hợp nếu di sản để dùng vào việc thờ cúng thì phần di sản đó sẽ không được chia thừa kế cũng như sẽ được giao cho người chỉ định trong di chúc quản lý và không được phép bán đi hay tặng cho người khác.
Tuy nhiên, đây cũng là một vấn đề còn nhiều vướng mắc khi chế tài để thực hiện quản lý chuyện người được nhận di sản theo di chúc có bán hay không bán là rất khó. Bởi thực tế, khó có ai có thể đứng ra kiểm soát việc sử dụng đất này sẽ ra sao trong một khoảng thời gian dài như vậy.
Căn cứ theo quy định của pháp luật đất đai, khi tiến hành khai nhận di sản thừa kế xong, người hưởng di sản sẽ tiến hành đăng ký biến động đất đai tại cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và ghi nhận thành quyền sử dụng đất của họ trên Giấy chứng nhận. Theo đó, họ hoàn toàn có quyền quyết định sử dụng mảnh đất này (trong đó bao gồm cả quyền tặng cho, mua bán…). Bởi trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ không ghi nhận điều kiện di sản thừa kế được nhận không được phép bán cho người khác.
Kết luận: Để đảm bảo tốt nhất về việc người hưởng di sản không được phép bán đi thì nên ưu tiên để phần di sản là phần thờ, cúng và giao cho một người quản lý.
2. Các trường hợp phổ biến lập di chúc không cho bán di sản:
Trên thực tế, việc người lập di chúc mong muốn hạn chế hoặc không cho phép bán di sản xuất phát từ nhiều lý do chính đáng gắn với mục đích bảo toàn giá trị tinh thần, truyền thống gia đình hoặc bảo vệ quyền lợi của những chủ thể yếu thế. Pháp luật không cấm tuyệt đối việc đặt ra điều kiện trong di chúc, tuy nhiên điều kiện đó phải phù hợp với quy định của pháp luật và không trái đạo đức xã hội. Dưới đây là những trường hợp phổ biến thường được áp dụng:
2.1. Di sản dùng vào việc thờ cúng:
Đây là trường hợp điển hình và được pháp luật ghi nhận rõ ràng. Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015, người lập di chúc có quyền dành một phần hoặc toàn bộ di sản để dùng vào việc thờ cúng. Đối với loại di sản này:
- Không được xem là di sản để chia thừa kế;
- Không được mua bán, chuyển nhượng, tặng cho hoặc thế chấp;
- Chỉ được sử dụng đúng mục đích thờ cúng theo ý chí của người để lại di sản.
Trong trường hợp này, việc cấm bán di sản là hoàn toàn hợp pháp, miễn là trong di chúc ghi rõ mục đích thờ cúng và chỉ định người quản lý tài sản thờ cúng.
2.2. Di sản giao cho người chưa thành niên hoặc người mất năng lực hành vi dân sự:
Khi người thừa kế là người chưa đủ 18 tuổi, người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi, người lập di chúc thường đặt ra điều kiện không cho bán di sản nhằm bảo vệ tài sản cho người thừa kế. Trong trường hợp này:
- Di sản có thể được giao cho người giám hộ hoặc người quản lý tài sản;
- Việc cấm bán có thể áp dụng trong một thời hạn nhất định (ví dụ đến khi người thừa kế đủ 18 tuổi);
- Nếu việc bán di sản là cần thiết để bảo đảm quyền lợi của người được thừa kế, thì phải được cơ quan có thẩm quyền cho phép.
Việc hạn chế quyền bán di sản trong trường hợp này phù hợp với nguyên tắc bảo vệ người yếu thế và thường được pháp luật chấp nhận.
2.3. Di sản gắn với truyền thống gia đình, dòng họ:
Nhiều gia đình, dòng họ mong muốn giữ lại nhà ở, đất đai, từ đường, nhà thờ tổ, đất hương hỏa để duy trì truyền thống và giá trị tinh thần lâu dài. Trong các trường hợp này, người lập di chúc thường:
- Không cho phép bán hoặc chia nhỏ di sản;
- Chỉ định một người quản lý, trông coi;
- Đặt ra nghĩa vụ bảo quản, sửa chữa và giữ gìn tài sản.
Tuy nhiên, để điều khoản cấm bán có giá trị pháp lý thì di chúc cần ghi rõ mục đích, phạm vi và cách thức quản lý; tránh quy định một cách chung chung mơ hồ.
2.4. Di sản đang tranh chấp hoặc có nghĩa vụ tài sản kèm theo:
Trong một số trường hợp, tại thời điểm lập di chúc, di sản:
- Đang có tranh chấp;
- Hoặc đang gắn với nghĩa vụ tài sản (nợ, bảo lãnh, thế chấp…).
Người lập di chúc có thể tạm thời không cho phép bán di sản cho đến khi:
- Tranh chấp được giải quyết;
- Nghĩa vụ tài sản được thực hiện xong.
Đây là cách để tránh phát sinh tranh chấp phức tạp và bảo đảm việc thực hiện nghĩa vụ tài sản đúng quy định pháp luật. Tuy nhiên, điều khoản cấm bán trong trường hợp này nên giới hạn thời gian hoặc điều kiện chấm dứt rõ ràng.
2.5. Cấm bán nhằm bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo di chúc:
Người lập di chúc có thể giao di sản kèm theo nghĩa vụ cho người thừa kế (ví dụ: chăm sóc người khác, duy trì việc thờ cúng, thanh toán nghĩa vụ tài chính…). Trong trường hợp này:
- Việc cấm bán di sản có thể được đặt ra để bảo đảm nghĩa vụ được thực hiện;
- Nếu người thừa kế không thực hiện đúng nghĩa vụ, có thể bị hạn chế quyền đối với di sản theo di chúc.
Tuy nhiên, điều khoản cấm bán không được nhằm tước đoạt hoàn toàn quyền sở hữu hợp pháp của người thừa kế một cách vô lý hoặc trái luật.
3. Đã lập di chúc cho người khác, có được quyền bán tài sản nữa không?
Theo quy định của Bộ luật Dân sự 2015 cá nhân có quyền lập di chúc để định đoạt tài sản của mình cho người khác sau khi chết. Luật Đất đai 2024 cho phép người sử dụng đất thực hiện chuyển quyền sử dụng trong đó có quyền để lại thừa kế với quyền sử dụng đất.
Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về hiệu lực của di chúc: Di chúc có hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế.
Điều 611 Bộ luật Dân sự 2015 quy định về thời điểm, địa điểm mở thừa kế: Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được xác định tại khoản 2 Điều 71 của Bộ luật Dân sự 2015.
Như vậy, di chúc chỉ phát sinh hiệu lực khi người có tài sản chết. Người lập di chúc chưa chết đồng nghĩa quyền thừa kế chưa được phát sinh, di chúc chưa có giá trị pháp lý. Quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt tài sản vẫn thuộc về người lập di chúc.
Bộ luật Dân sự 2015 cũng có phép người lập di chúc có quyền sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc (Điều 640):
- Người lập di chúc có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ di chúc đã lập vào bất cứ lúc nào;
- Trường hợp người lập di chúc thay thế di chúc bằng di chúc mới thì di chúc trước bị hủy bỏ.
Từ các cứ trên, dù đã lập di chúc nhưng ông bà vẫn là chủ sử dụng của thửa đất và hoàn toàn có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Tuy nhiên, do đất và nhà là tài sản chung của hai vợ chồng nên khi thực hiện việc chuyển nhượng phải có sự đồng ý của vợ và chồng. Khi thực hiện việc chuyển nhượng, ông bà không cần phải hủy bản di chúc đã viết bởi theo quy định tại khoản 3 và khoản 5 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015:
Như vậy, việc đã lập di chúc không làm mất đi quyền định đoạt tài sản của cá nhân khi còn sống. Trong thời gian còn sống, cá nhân đó vẫn là chủ sử dụng hợp pháp của thửa đất và hoàn toàn có quyền chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật. Và khi tiến hành chuyển nhượng quyền sử dụng đất, cá nhân cũng không bắt buộc phải hủy bỏ bản di chúc đã lập trước đó. Bởi theo quy định tại khoản 3 và khoản 5 Điều 643 Bộ luật Dân sự 2015:
- Di chúc không có hiệu lực nếu di sản để lại cho người thừa kế không còn vào thời điểm mở thừa kế;
- Nếu di sản để lại cho người thừa kế chỉ còn một phần thì phần di chúc về phần di sản còn lại vẫn có hiệu lực;
- Khi một người để lại nhiều bản di chúc đối với một tài sản thì chỉ bản di chúc sau cùng có hiệu lực.
Như vậy: Về nguyên tắc di chúc chỉ phát sinh hiệu lực từ thời điểm mở thừa kế. Vì vậy, cá nhân dù đã lập di chúc cho người khác thì vẫn CÓ quyền chuyện nhượng, tặng cho… tài sản đó cho người khác vì người lập di chúc còn sống thì di chúc đó vẫn chưa có hiệu lực.
THAM KHẢO THÊM:

Tư vấn pháp luật qua Zalo


