Tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền nhờ xin việc làm

Tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền nhờ xin việc làm

Tố cáo hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền nhờ xin việc làm. Trách nhiệm liên đới khi giới thiệu việc làm nhưng bị lừa chiếm đoạt tiền.


Tóm tắt câu hỏi:

Chào Luật sư! xin Luật sư tư vấn giúp tôi. Tôi có quen anh A làm ở văn phòng giới thiệu việc làm, và tôi có nhận nộp giúp hồ sơ xin việc cho B (là bạn của tôi ) kèm theo số tiền 25 triệu để anh A xin việc cho B, nhưng trong khoảng thời gian hẹn anh A không xin được việc cho B, và giờ anh A chuyển văn phòng giới thiệu việc làm đi chỗ khác và lảng tránh không trả lại tôi số tiền trên, hiện giờ thì tôi không liên lạc được với anh A nữa. Còn B thì tố tôi có hành vi lừa đảo, nhưng thực chất tôi chỉ nộp hồ sơ giúp và không được sử dụng số tiền 25 triệu kia. Số tiền 25 triệu B đưa trực tiếp cho tôi không có giấy tờ liên quan, còn tôi cầm đưa cho anh A thì có giấy biên nhận viết tay. Vậy Luật sư cho tôi hỏi, tôi có trình báo về hành vi lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của anh A được không? và trách nhiệm liên đới của tôi trong sự việc này đến đâu? Tôi xin cảm ơn Luật sư !

Luật sư tư vấn:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Thứ nhất, bạn hoàn toàn có quyền trình báo sự việc với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để được bảo về quyền và lợi ích của bản thân.

Khoản 1 Điều 25 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 quy định cụ thể: “1. Các tổ chức, công dân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.”. Như vậy, việc trình báo sự việc để tố giác hành vi phạm tội là quyền cũng là nghĩa vụ của mọi công dân.

Vấn đề này được quy định cụ thể tại điều 101 và điều 103 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 như sau:

“Điều 101. Tố giác và tin báo về tội phạm

Công dân có thể tố giác tội phạm với Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án hoặc với các cơ quan khác, tổ chức. Nếu tố giác bằng miệng thì cơ quan, tổ chức tiếp nhận phải lập biên bản và có chữ ký của người tố giác.

Cơ quan, tổ chức khi phát hiện hoặc nhận được tố giác của công dân phải báo tin ngay về tội phạm cho Cơ quan điều tra bằng văn bản.”

“Điều 103. Nhiệm vụ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố

1. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ mọi tố giác, tin báo về tội phạm do cá nhân, cơ quan, tổ chức và kiến nghị khởi tố do cơ quan nhà nước chuyển đến. Viện kiểm sát có trách nhiệm chuyển ngay các tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố kèm theo các tài liệu có liên quan đã tiếp nhận cho Cơ quan điều tra có thẩm quyền.

2. Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, Cơ quan điều tra trong phạm vi trách nhiệm của mình phải kiểm tra, xác minh nguồn tin và quyết định việc khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án hình sự.

Trong trường hợp sự việc bị tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm thì thời hạn để giải quyết tố giác và tin báo có thể dài hơn, nhưng không quá hai tháng.

3. Kết quả giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp và thông báo cho cơ quan, tổ chức đã báo tin hoặc người đã tố giác tội phạm biết.

Cơ quan điều tra phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ người đã tố giác tội phạm.

4. Viện kiểm sát có trách nhiệm kiểm sát việc giải quyết của Cơ quan điều tra đối với tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố.”

Như vậy, bạn có thể trực tiếp trình báo sự việc tại các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền , sau quá trình điều tra , xác minh ban đầu, nếu phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì quyết định khởi tố cụ án hình sự sẽ được ban hành và vụ việc sẽ được giải quyết theo các quy định của luật Tố tụng hình sự.

Thứ hai, về nội dung bạn đưa ra thì chưa đủ căn cứ để xác định anh A đã có hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản trong trường hợp này. Do vậy, cần phải xem xét hành vi của A theo hướng truy cứu trách nhiệm hình sự Điều 139 Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoặc Điều 140 Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Bộ luật hình sự sửa đổi 2009.

Trường hợp  A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự sửa đổi 2009 quy định về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản như sau: “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.”

Như vậy, bản chất của hành vi phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là dùng thủ đoạn gian dối từ đầu để chiếm đoạt tài sản của người khác. Trong trường hợp của bạn, nếu ngay từ khi sự việc xảy ra, A đã không có khả năng xin việc cho B nhưng vẫn nhận tiền của B từ bạn để hưởng số tiền thì đã làm phát sinh hành vi gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản. Như vậy, A sẽ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Trường hợp  A phạm tội lạm dụng tín nhiêm chiếm đoạt tài sản:

Hành vi khách quan của tội phạm này được quy định tại khoản 1 Điều 140 Bộ luật hình sự sửa đổi 2009 như sau:

“1. Người nào có một trong những hành vi sau đây  chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.”

Trong trường hợp này, A nhận số tiền 25 triệu đồng từ bạn, có giấy biên nhận để xin việc cho B. Như vậy, A có được số tiền một cách tự nguyện, hợp pháp từ bạn. Tuy nhiên, A đã có hành vi chuyển nơi làm việc, cắt liên lạc với bạn để nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ hoàn trả số tiền 25 triệu đồng cho bạn do không xin việc được cho B. Hành vi này về cơ bản trùng khớp với hành vi quy định tại điểm a khoản 1 điều 140 nêu trên.

Như vậy, căn cứ vào hoàn cảnh và nhưng thông tin thực tế, bạn có xem xét các trường hợp nêu trên để trình báo sự việc với cơ quan chức năng. Bạn cũng cần chú ý, xuất trình được càng nhiều chứng cứ, cung cấp thông tin chi tiết sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ quan chức năng khi tiến hành xác minh và giải quyết vụ việc sau này.

To-cao-hanh-vi-lua-dao-chiem-doat-tien-nho-xin-viec-lam

>>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 1900.6568

Thứ ba, về trách nhiệm của bạn trong tình huống này.

Như bạn có cung cấp thì vai trò của bạn trong tình huống này chỉ là người trung gian giưa A và B, bạn quen biết cả A và B, khi biết B có nhu cầu tìm việc còn A thì làm việc tại văn phòng giới thiệu việc làm và bạn đã trực tiếp nhận tiền từ B để chuyển cho A với mục đích nhờ A xin việc cho B. Vì bạn là người trực tiếp nhận số tiền 25 triệu đồng từ B nên về nguyên tắc bạn có nghĩa vụ hoàn lại số tiền đó cho B, đồng thời, A có nghĩa vụ phải trả lại số tiền cho bạn. Trong trường hợp này tồn tại hai quan hệ pháp luật dân sự độc lập bởi giữa A và B không có thỏa thuận hay hợp đồng nào, do đó các nghĩa vụ được thực hiện độc lập với nhau.

Hy vọng rằng sự tư vấn của chúng tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Tư vấn nêu trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo. Quý khách hàng, người truy cập tuyệt đối không được coi là ý kiến pháp lý chính thức cuối cùng của Luật sư để giải quyết hoặc làm việc với bên thứ 3. Vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật trực tuyến 24/7 của Luật sư: 1900.6568 để nhận được ý kiến tư vấn chính xác nhất! 

--------------------------------------------------------

Chuyên viên tư vấn: Lê Thị Thanh Hà

(Lượt xem : 86)