Những điểm mới trong quy định về quyền nhân thân của vợ chồng theo quy định của Luật HNGĐ 2014

Những điểm mới trong quy định về quyền nhân thân của vợ chồng theo quy định của Luật HNGĐ 2014

Luật HNGĐ 2014 ra đời với rất nhiều thay đổi, những quy định mới phù hợp hơn với điều kiện kinh tế, xã hội cũng như sự phát triển của con người, của các mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình. Mối quan hệ giữa vợ chồng được Luật HNGĐ 2014 điều chỉnh cũng không nằm ngoài sự thay đổi này.

Các quy định về quyền nhân thân của vợ chồng theo Luật HNGĐ 2014 cũng có sự thay đổi so với Luật HNGĐ 2000, tuy không thể nói là có quá nhiều thay đổi nhưng sự thay đổi này cũng có những ý nghĩa nhất định trong sự điều chỉnh mối quan hệ giữa vợ chồng.

Theo đó, quyền nhân thân của vợ chồng trong Luật HNGĐ 2014 được quy định tại Mục 1. Quyền và nghĩa vụ về nhân thân – Chương III. Quan hệ giữa vợ và chồng, bao gồm 7 Điều, từ Điều 17 đến Điều 23. Từ đó cho thấy sự thay đổi về mặt hình thức cũng như nội dung của các quy định về quyền nhân thân trong Luật HNGĐ 2014 so với Luật HNGĐ 2000.

Thứ nhất, về mặt nội dung, các quyền nhân thân của vợ chồng quy định trong Luật HNGĐ 2014 được nhóm vào một mục riêng. Khác với Luật HNGĐ 2000, các quy định về quyền nhân thân của vợ chồng cũng nằm trong Chương III về quan hệ giữa vợ chồng, tuy nhiên không được tách thành một mục riêng mà được liệt kê cũng với các quy định khác như các quy định về tài sản vợ chồng, về đại diện giữa vợ và chồng... Theo Luật mới thì các quy định này được nhóm thành 3 mục riêng biệt, trong đó Mục 1 quy định về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng.

Việc nhóm các quy định này vào một mục riêng cho thấy tầm quan trọng của các quy định về quyền nhân thân, nó ngang bằng với quy định về quyền tài sản hay quyền đại diện giữa vợ và chồng, tránh trường hợp có rất nhiều người cho rằng suy cho cùng, vấn đề quan trọng nhất vẫn là vấn đề về tài sản. Điều này xuất phát từ quan điểm hôn nhân là sự liên kết tình cảm đặc biệt giữa một người đàn ông với một người phụ nữ trong quan hệ vợ chồng, Tức là xem trọng yếu tố tình cảm, sự tôn trọng nhau giữa vợ và chồng trong hôn nhân. Nó khác với quan điểm lập pháp ở các nước tư sản cho rằng hôn nhân suy cho cùng cũng là một loại hợp đồng đặc biệt.

Ngoài ra, việc tách các quy định về quan hệ giữa vợ và chồng thành ba mục riêng biệt làm cho người đọc hay tìm hiểu luật dễ dàng hơn, không bị rối giữa các quy định và làm cho công tác phổ biến pháp luật trở nên dễ dàng hơn.

Thứ hai, quy định về quyền và nghĩa vụ nhân thân giữa vợ và chồng trong Luật HNGĐ 2014 có 7 Điều, nhiều hơn 1 Điều so với Luật HNGĐ 2000. Luật HNGĐ 2014 có thêm Điều 18 quy định về Bảo vệ quyền, nghĩa vụ về nhân thân giữa vợ, chồng như sau: “Quyền, nghĩa vụ về nhân thân của vợ, chồng quy định tại Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan được tôn trọng và bảo vệ”. Đây là một quy định hoàn toàn mới, trước đây chúng ta chưa từng có quy định nào về bảo vệ quyền, nghĩa vụ về nhân thân giữa vợ, chồng trong Luật HNGĐ. Viêc quy định điều luật này một lần nữa nâng tầm quan trong về quan hệ nhân thân giữa vợ chồng trong hôn nhân, khẳng định các quyền, nghĩa vụ nhân thân giữa vợ chồng phải được tôn trọng và luôn được pháp luật bảo vệ.

Thứ ba, các điều luật được quy định giống trong Luật HNGĐ 2000, tuy nhiên có sự thay đổi ở nội dung một số điều. Cụ thế:

Điều 17 quy định về Bình đẳng về quyền, nghĩa vụ giữa vợ, chồng theo Luật HNGĐ 2014 có thêm đoạn: “trong việc thực hiện các quyền, nghĩa vụ của công dân được quy định trong Hiến pháp, Luật này và các luật khác có liên quan”. Quy định theo như Luật HNGĐ 2014 rõ ràng và đầy đủ hơn Luật HNGĐ 2000. Vợ chồng không chỉ có có quyền, nghĩa vụ ngang nhau đối với các vấn đề, các công việc trong gia đình mà trong cả việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ công dân. Sự bình đẳng ở đây được thể hiện không chỉ trong gia đình mà còn thể hiện sự bình đẳng cả trong các mối quan hệ xã hội khác.

Điều 19 quy định về Tình nghĩa vợ chồng được bổ sung Khoản 2: “Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”. Việc quy định nghĩa vụ sống chung của vợ chồng nhằm xây dựng một gia đình hạnh phúc theo đúng nghĩa. Vợ chồng phải sống chung mới có thể vun đắp tình cảm, tạo thành một gia đình, lo lắng, quan tâm lẫn nhau. Tránh trường hợp vợ chồng có những lúc “cơm không lành, canh chẳng ngọt” dẫn tới việc vợ chồng có thể sống riêng bất cứ khi nào, bởi Luật pháp không quy định vợ chồng phải sống chung; đồng thời quy định nghĩa vụ sống chung tránh trường hợp hôn nhân giả tạo, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của vợ, chồng.

Điều 20 quy định về lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng, Luật HNGĐ 2014 quy định “Việc lựa chọn nơi cư trú của vợ chồng do vợ chồng thỏa thuận...” thay vì “do vợ chồng lựa chọn” theo Luật HNGĐ 2000. Việc quy định theo như Luật HNGĐ 2014 một lần nữa thể hiện sự bình đẳng trong quan hệ vợ chồng đối với mọi việc trong cuộc sống chung của vợ chồng.

Điều 21, Điều 22 theo Luật HNGĐ 2014 đều được lược bỏ đoạn quy định về các hành vi bị cấm ở vế sau của điều luật so với Luật HNGĐ 2000. Cụ thể, Điều 21 bỏ Khoản 2 “Cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau”; Điều 22 bỏ đoạn “không được cưỡng ép, cản trở nhau theo hoặc không theo một tôn giáo nào” so với Luật HNGĐ 2000. Việc quy định lược bỏ này nhằm nhấn mạnh và nâng cao sự tôn trọng và ý thức việc tôn trọng nhau giữa vợ và chồng.

Đặt câu hỏi tại đây
(Lượt xem : 1291)
Dịch vụ nổi bật