Khó khăn chưa trả được tiền vay ngân hàng thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?
Bạn đang xem bài viết: Khó khăn chưa trả được tiền vay ngân hàng thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Khó khăn chưa trả được tiền vay ngân hàng thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Khó khăn chưa trả được tiền vay ngân hàng thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không? Trách nhiệm thanh toán nợ đối với trường hợp vay trả chậm, trả dần.


Tóm tắt câu hỏi:

Xin chào luật sư. Em có một câu hỏi muốn tham khảo ý kiến của luật sư ạ. Vào tháng 7 năm 2015 em gái em có vay tiêu dùng tại ngân hàng FC với số tiền là 25 triệu nhưng chỉ nhận được 24 triệu còn 1 triệu là tiền phí bảo hiểm. Em gái em phải trả góp trong vòng 36 tháng mỗi tháng trả 1480.000đ bằng tổng số tiền là 53 triệu 280.000đ và đã trả được 18 tháng vào cuối năm 2017 em gái về quê sinh con, điều kiên kinh tế khó khăn nên đã trễ trả 4 tháng hôm qua nhận em nhận được thư quyết định khởi kiện của ngân hàng FC do Tòa Án nhân dân Bình Dương gừi về nhưng trong thư không có dấu của tòa án mà là của ngân hàng FC. Vậy luật sư cho em hỏi nếu bây giờ em gái em chưa thể trả số tiền còn nợ lại là 23 triệu 70020 đồng trong vòng 3 ngày thì có bị truy cứu trách nhiệm hình sự không và nếu truy cứu trách nghiệm hình sự thì em gái em có bị pham vào Điều 140 Bộ luật hình sự hay không?

Luật sư tư vấn:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo như bạn trình bày thì năm 2015 em gái bạn có một khoản vay với ngân hàng FC số tiền 25 triệu, trả góp trong 36 tháng, đã trả được 18 tháng vào cuối năm 2017. Còn nợ lại ngân hàng 23 triệu 700 nghìn đồng. 

Căn cứ theo Điều 140 Bộ luật hình sự sửa đổi năm 2009 quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như sau:

“Điều 140. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào có một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ bốn triệu đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới bốn triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm:

  a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian  dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó;

  b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó  vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

c) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

d) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

đ) Tái phạm nguy hiểm;

e) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

b)  Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân:

a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm và bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản hoặc một trong hai hình phạt này.”

Các yếu tố cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản: 

- Chủ thể:

+ Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 1, 2 Điều 140 Bộ luật hình sự sửa đổi 2009 thì người phạm tội phải đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

+ Phạm tội trong trường hợp quy định tại Khoản 3, 4 Điều 140 Bộ luật hình sự sửa đổi 2009 thì người phạm tội phải đủ 14 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự

- Khách thể: Quan hệ sở hữu: Nếu sau khi chiếm đoạt tài sản, người phạm tội bị đuổi bắt có hành vi chống trả để tẩu thoát gây chết hoặc làm bị thương người khác thì có thể bị truy cứu them trách nhiệm hình sự về tội khác.

- Mặt khách quan của tội phạm:

+ Hành vi: bao gồm các giai đoạn:

+) Người phạm tội có được tài sản một cách hợp pháp thông qua hợp đồng vay, mượn, thuê tài sản hoặc hợp đồng khác

+) Sau khi có được tài sản, người phạm tội không thực hiện như cam kết trong hợp đồng, sử dụng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản.

+ Hậu quả: người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản, hoặc đã bỏ trốn, hoặc không còn khả năng trả lại tài sản.

Người phạm tội chiếm đoạt được tài sản có giá trị từ 4 triệu đồng trở lên, nếu tài sản có giá trị dưới 4 triệu đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm mới thì mới cấu thành tội phạm.

- Mặt chủ quan của tội phạm:

+ Lỗi cố ý

+ Mục đích: chiếm đoạt tài sản.

Theo đó, nếu sau khi ký hợp đồng vay tiền với Ngân hàng mà em bạn có ý định chiếm đoạt số tài sản đó thông qua hành vi gian dối, bổ trốn hoặc sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng chi trả thì khi đó em bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 

Đối với trường hợp em bạn đã trả được 18 tháng tiền vay nhưng bạn không trình bãy rõ khi em bạn về quê sinh em bé có thông báo lại cho phía bên ngân hàng về việc di chuyển nơi cư trú hay không? Nên rất khó xác định em bạn có hành vi “bỏ trốn” hay không? Và khi về quê, chậm trả 4 tháng, em bạn có liên lạc với phía bên ngân hàng thỏa thuận về việc chậm trả hay không? 

Do vậy, nếu em bạn không thỏa thuận việc chậm trả tiền vay hoặc không thông báo về việc di chuyển khỏi nơi cư trú với bên Ngân hàng thì có thể em bạn sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản theo Điều 140 Bộ luật hình sự sửa đổi 2009 nêu trên.

Kho-khan-chua-tra-duoc-tien-vay-ngan-hang-thi-co-bi-truy-cuu-trach-nhiem-hinh-su-khong

>>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 1900.6568

Bên cạnh đó, theo Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 quy định về nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau:

"Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác."

Theo đó, trong trường hợp vay có lãi mà đến hạn em bạn không trả hoặc trả không đầy đủ thì em bạn phái có trách nhiệm trả lãi cho bên Ngân Hàng theo quy định tại khoản 5 nêu trên. 

Căn cứ Điều 22 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 quy định như sau:

"Điều 22. Trách nhiệm chuyển giao tài liệu, giấy tờ của Tòa án.

1. Tòa án có trách nhiệm tống đạt, chuyển giao, thông báo bản án, quyết định, giấy triệu tập, giấy mời và các giấy tờ khác của Tòa án theo quy định của Bộ luật này.

2. Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm chuyển giao bản án, quyết định, giấy triệu tập, giấy mời và các giấy tờ khác của Tòa án khi có yêu cầu của Tòa án và phải thông báo kết quả việc chuyển giao đó cho Tòa án."

Như vậy, Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm chuyển giấy triệu tập hoặc giấy mời hoặc các giấy tờ khác của Tòa án khi có yêu cầu của Tòa án và phải thông báo kết quả việc chuyển giao đó cho Tòa án. Việc em bạn nhận được giấy khởi kiện của Tòa án nhưng bạn không trình bày rõ bạn nhận được bằng hình thức nào? Còn việc giấy "quyết định khởi kiện" bạn nhận được không có dấu của Tòa án mà chỉ có dấu của Ngân Hàng thì bạn nên xác nhận lại bằng cách liên hệ với Tòa án nhân dân Bình Dương về việc này.

Bài viết tư vấn pháp luật hình sự trên được chúng tôi thực hiện theo yêu cầu được gửi bởi các quý khách hàng - người truy cập! Hy vọng rằng sự tư vấn của chúng tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Tư vấn nêu trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo. Quý khách hàng, người truy cập tuyệt đối không được coi là ý kiến pháp lý chính thức cuối cùng của Luật sư để giải quyết hoặc làm việc với bên thứ 3. Để được tư vấn luật hình sự trực tuyến miễn phí vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật hình sự: 1900.6568 để nhận được ý kiến tư vấn chính xác nhất! 

--------------------------------------------------------

(Lượt xem : 115)

Chuyên viên tư vấn: Lê Thị Thanh Hà

Nếu bạn thấy bài viết hữu ích, hãy ấn like để ủng hộ luật sư tư vấn