Hiếp dâm rồi lấy tài sản phạm tội gì?
Bạn đang xem bài viết: Hiếp dâm rồi lấy tài sản phạm tội gì?
23/04/2017 08:27:41 Luật Dương gia Luật Dương gia Luật Dương gia Luật Dương gia Luật Dương gia

Hiếp dâm rồi lấy tài sản phạm tội gì?

Hiếp dâm rồi lấy tài sản phạm tội gì? Cấu thành tội cướp tài sản.


Tóm tắt câu hỏi:

em có 1 câu hỏi muốn được giải đáp!. A là nam giới 25 tuổi, M là nữ giới 22 tuổi. A và M đã chia tay. một lần A chặn đường, khống chế và đưa M vào nhà nghỉ, tại đây A đánh đập sau đó thực hiện hành vi giao cấu với M. M sợ hãi không dám chống cự, trước khi bỏ đi A còn lấy điện thoại, túi xách trong có tiền, tài sản trị giá 7 triệu đồng. hỏi: hành vi của A có cấu thành tội cướp TS hay không??

Luật sư tư vấn:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo thông tin mà bạn cung cấp và quy định của Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999, A sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản do có đủ các yếu tố cấu thành tội cướp tài sản, bao gồm:

- Khách thể của tội phạm: xâm phạm quan hệ sở hữu tài sản và quan hệ nhân thân. Trường hợp này, hành vi của A xâm phạm quyền sở hữu tài sản của M và xâm phạm sức khỏe, tính mạng của M.

- Chủ thể của tội phạm: A 25 tuổi và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

- Mặt chủ quan của tội phạm:

+ Lỗi của A là lỗi cố ý.

+ Động cơ, mục đích phạm tội: Thông thường, khi thực hiện tội cướp tài sản, người phạm tội có ý thức chiếm đoạt trước khi có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, hoặc các hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được.  

Tuy nhiên, theo khoa học luật hình sự, mục đích phạm tội không được phản án trong tất cả các cấu thành tội phạm. Bản chất hành vi trong mặt khách quan của tội cướp tài sản là chiếm đoạt được và hành vi chiếm đoạt đã thể hiện được bản chất của tội này (bao hàm cả mục đích chiếm đoạt), đồng thời là căn cứ phân biệt tội cướp tài sản với các tội khác, nhất là đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chất chiếm đoạt.

Trường hợp này, có thể ban đầu A chưa có ý định cướp tài sản nhưng tất cả hành vi dùng vũ lực và đưa M vào tình trạng không thể kháng cự được rồi chiếm đoạt tài sản của M đã thể hiện được bản chất của việc cướp tài sản.

- Mặt khách quan của tội phạm thể hiện qua các hành vi:

+ Hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực ngay tức khắc: A chặn đường, khống chế, đưa M vào nhà nghỉ, đánh đập và giao cấu với M làm M lâm vào tình trạng không thể chống cự được. 

+ Hậu quả của tội phạm: Tài sản của M bị A chiếm đoạt. Tội phạm hoàn thành từ khi A lấy điện thoại và tiền trong túi xách của M.

Nếu hậu quả xảy ra là thiệt hại về sức khỏe thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cướp tài sản với tình tiết gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nếu bị hại có tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên.

Nếu hậu quả xảy ra là thiệt hại về nhân phẩm, danh dự mà hành vi xâm phạm của người phạm tội không có liên quan gì đến mục đích chiếm đoạt thì ngoài tội cướp tài sản, người phạm tội còn bị truy cứu về các tội phạm tương ứng với hành vi xâm phạm danh dự, nhân phẩm.

Trường hợp này, trước khi chiếm đoạt tài sản của A, M đã có hành vi dùng vũ lực và giao cấu trái với ý muốn của A nên M còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội hiếp dâm.

Về hình phạt, tội cướp tài sản bị xử lý theo quy định tại Điều 133 Bộ luật hình sự năm 1999 như sau:

“Điều 133. Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến  mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Tái phạm nguy hiểm;

d) Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác;

đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%;

e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

g, Gây hậu quả nghiêm trọng;

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

c, Gây hậu quả rất nghiêm trọng;

4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười tám năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác mà tỷ lệ thương tật  từ 61% trở lên hoặc làm chết người;

b) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

c, Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng;

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ một năm đến năm năm.”

  hiep-dam-roi-lay-tai-san-pham-toi-gi. 

>>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 1900.6568

Như phân tích ở trên, A có hành vi dùng vũ lực và giao cấu trái với ý muốn của M nên A cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội hiếp dâm theo quy định tại Điều 111 Bộ luật hình sự năm 1999:

“Điều 111. Tội hiếp dâm

1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái với ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Có tổ chức;

b) Đối với người mà người phạm tội có trách nhiệm chăm sóc, giáo dục, chữa bệnh;

c) Nhiều người hiếp một người;

d) Phạm tội nhiều lần;

đ) Đối với nhiều người;

e) Có tính chất loạn luân;

g) Làm nạn nhân có thai;

h) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật  từ 31% đến 60%;

i) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình;

a) Gây tổn hại cho sức khoẻ của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;

c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

4. Phạm tội hiếp dâm người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 2 hoặc khoản 3 Điều này, thì bị xử phạt theo mức hình phạt quy định tại các khoản đó.

5.  Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.”

Bài viết tư vấn pháp luật hình sự trên được chúng tôi thực hiện theo yêu cầu được gửi bởi các quý khách hàng - người truy cập! Hy vọng rằng sự tư vấn của chúng tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Tư vấn nêu trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo. Quý khách hàng, người truy cập tuyệt đối không được coi là ý kiến pháp lý chính thức cuối cùng của Luật sư để giải quyết hoặc làm việc với bên thứ 3. Để được tư vấn luật hình sự trực tuyến miễn phí vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật hình sự: 1900.6568 để nhận được ý kiến tư vấn chính xác nhất! 

--------------------------------------------------------

(Lượt xem : 142)

Chuyên viên tư vấn: Lục Thị Trang

Nếu bạn thấy bài viết hữu ích, hãy ấn like để ủng hộ luật sư tư vấn