Giải quyết vụ án không có đã kết thời hạn kháng cáo thì xử lý như thế nào?
Bạn đang xem bài viết: Giải quyết vụ án không có đã kết thời hạn kháng cáo thì xử lý như thế nào?
26/04/2017 16:36:01 Luật Dương gia Luật Dương gia Luật Dương gia Luật Dương gia Luật Dương gia

Giải quyết vụ án không có đã kết thời hạn kháng cáo thì xử lý như thế nào?

Giải quyết vụ án không có đã kết thời hạn kháng cáo thì xử lý như thế nào? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản, kiện đòi tài sản khi đã thanh toán hết nhưng không lấy biên nhận. 


Tóm tắt câu hỏi:

Tôi có người bạn đang bị khởi kiện thi hành án dân sự như sau: Vào 1989 bà của bạn tôi có vay số tiền là 52.000.000đ của bà Thủy với lãi suất 12% , đến cuối năm 1989 bà của bạn tôi đã trả hết số tiền cộng với lãi suất, nhưng không lấy lại biên nhận đã vay tiền. Tới 1990 bà Thủy khởi kiện ra tòa án Gò Công Tây và yêu cầu bà tôi phải trả số tiền còn nợ là 30.000.000đ . Quá trình xét xử bà Thủy cũng không chứng minh được tại sao bà tôi còn nợ số tiền 30.000.000 vì các giấy tờ liên quan đã thất lạc. Kết luận của tòa án quyết định xử bà tôi phải trả với số tiền là 22.176.000 quy ra lúa bằng 7.400 kg tương đương 72.000.000 cộng với lãi suất ngân hàng qua 10 năm là bao nhiêu thì em không biết tổng giá trị phải trả là 124.000.000 quyết định bản án năm 2010 , bà em không chịu mới kháng cáo và im lặng tới giờ thì bị tòa kêu lên bắt thi hành án theo quyết định thi hành án năm 2010. Cho em hỏi với án như vậy tòa xử có đúng hay không , vì bản án còn nhiều khúc mắc không rõ ràng, không đủ chứng cứ của cả hai bên nhưng tòa án vẫn xử bà em như vậy . Em xin nhờ bên công ty luật tư vấn giúp đỡ giùm em. vì bà đang bệnh rất nặng mà bên bà Thủy cứ đòi xiếc nhà. Em xin chân thành cảm ơn!

Luật sư tư vấn:

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Theo thông tin bạn đưa ra thì tranh chấp phát sinh từ hợp đồng vay năm 1989, đơn khởi kiện được đưa ra Tòa án vào năm 1990.Tại thời điểm năm 1990, theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết vụ án dân sự 1989 cũng như theo pháp luật hiện hành thì một nguyên tắc quan trọng của hoạt động tố tụng là trong quá trình xét xử, thẩm phán và hội thẩm nhân dân độc lập và chỉ tuân theo pháp luật. Như vậy, trong quá trình xét xử vụ án, Thẩm phán phải căn cứ những bằng chứng, lập các bên đưa ra để bảo vệ quyền lợi của mình để ra bản án trên cơ sở tuân theo các quy định của pháp luật.

Do đó, trong trường hợp của bạn, những thông tin bạn đưa ra thì không thể đi đến kết luận rằng bản án mà Tóa án cấp có thẩm quyền tuyên đối với bà của bạn là đúng hay sai?

Cũng cần thấy rằng, bà của bạn dù không đồng ý với nội dung bản án của Tòa án nhưng cũng không thực hiện việc kháng cáo để có cơ hội bảo vệ quyền lợi của mình trong thời hạn theo quy định kể từ khi bản án được tuyên. 

Trong trường hợp của bạn, nếu đã hết thời hạn kháng cáo nhưng bà bạn vẫn có đề nghị cơ quan có thẩm quyền kiến nghị đưa vụ án ra xét lại theo thủ tục giám đốc thẩm nếu có căn cứ chứng minh cho các điều kiện, căn cứ giám đốc thẩm và tái thẩm quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Quy định về kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm được quy định tại Điều 326 và Điều 334 Bộ luật tố tụng dân sự 2015:

“Điều 326. Căn cứ, điều kiện để kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm

1. Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật bị kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm khi có một trong những căn cứ sau đây:

a) Kết luận trong bản án, quyết định không phù hợp với những tình tiết khách quan của vụ án gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự;

b) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng làm cho đương sự không thực hiện được quyền, nghĩa vụ tố tụng của mình, dẫn đến quyền, lợi ích hợp pháp của họ không được bảo vệ theo đúng quy định của pháp luật;

c) Có sai lầm trong việc áp dụng pháp luật dẫn đến việc ra bản án, quyết định không đúng, gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba.

2. Người có thẩm quyền kháng nghị quy định tại Điều 331 của Bộ luật này kháng nghị bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật khi có một trong các căn cứ quy định tại khoản 1 Điều này và có đơn đề nghị theo quy định tại Điều 328 của Bộ luật này hoặc có thông báo, kiến nghị theo quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 327 của Bộ luật này; trường hợp xâm phạm đến lợi ích công cộng, lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của người thứ ba thì không cần phải có đơn đề nghị.”

giai-quyet-vu-an-da-het-thoi-han-khang-cao-thi-xu-ly-nhu-the-nao

>>> Luật sư tư vấn pháp luật tranh chấp hợp đồng hợp đồng vay tài sản: 1900.6568

"Điều 334. Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm.

1. Người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm có quyền kháng nghị trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày bản án, quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.

2. Trường hợp đã hết thời hạn kháng nghị theo quy định tại khoản 1 Điều này nhưng có các điều kiện sau đây thì thời hạn kháng nghị được kéo dài thêm 02 năm, kể từ ngày hết thời hạn kháng nghị:

a) Đương sự đã có đơn đề nghị theo quy định tại khoản 1 Điều 328 của Bộ luật này và sau khi hết thời hạn kháng nghị quy định tại khoản 1 Điều này đương sự vẫn tiếp tục có đơn đề nghị;

b) Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật có vi phạm pháp luật theo quy định tại khoản 1 Điều 326 của Bộ luật này, xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, của người thứ ba, xâm phạm lợi ích của cộng đồng, lợi ích của Nhà nước và phải kháng nghị để khắc phục sai lầm trong bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đó."

Trong trường hợp của bà bạn, nếu thời hạn kháng cáo đã hết và không có các căn cứ nêu trên thì bà bạn buộc phải thực hiện nội dung bản án bởi bản án được tuyên theo trình tự, thủ tục hoàn toàn hợp pháp và chính bà bạn đã từ bỏ quyền kháng cáo để bảo vệ quyền lợi của mình.

Bài viết tư vấn pháp luật dân sự trên được chúng tôi thực hiện theo yêu cầu được gửi bởi các quý khách hàng - người truy cập! Hy vọng rằng sự tư vấn của chúng tôi sẽ giúp bạn lựa chọn phương án thích hợp nhất để giải quyết những vướng mắc của bạn. Tư vấn nêu trên chỉ được coi là tài liệu tham khảo. Quý khách hàng, người truy cập tuyệt đối không được coi là ý kiến pháp lý chính thức cuối cùng của Luật sư để giải quyết hoặc làm việc với bên thứ 3. Để được tư vấn luật dân sự trực tuyến miễn phí vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn pháp luật dân sự: 1900.6568 để nhận được ý kiến tư vấn chính xác nhất! 

--------------------------------------------------------

(Lượt xem : 87)

Chuyên viên tư vấn: Lê Thị Thanh Hà

Nếu bạn thấy bài viết hữu ích, hãy ấn like để ủng hộ luật sư tư vấn