Bản án 581/2007/KDTM-ST về việc tranh chấp hợp đồng thuê kho bãi
Bạn đang xem bài viết: Bản án 581/2007/KDTM-ST về việc tranh chấp hợp đồng thuê kho bãi
20/04/2017 13:19:06 Luật Dương gia Luật Dương gia Luật Dương gia Luật Dương gia Luật Dương gia

Bản án 581/2007/KDTM-ST về việc tranh chấp hợp đồng thuê kho bãi

Về yêu cầu đòi tiền thuê 162.338.232 đồng, tính từ tháng 5/2005 đến tháng 3/2007, giá thuê 7.058.184 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn đã căn cứ các thỏa thuận trong Điều 1.2 và Điều 2.1.2 của hợp đồng để tính tiền thuê và cũng đã được bị đơn xác nhận. Do đó, yêu cầu này của nguyên đơn là chính đáng nên được chấp nhận.

Về yêu cầu đòi lại mặt bằng, Hội đồng xét xử có nhận định như sau : Hợp đồng có thời hạn từ 1-1-2005 đến 30-3-2005. Sau khi hết thời hạn thuê các bên đã không thỏa thuận được việc tiếp tục thuê nên nguyên đơn đòi lại mặt bằng là không vi phạm hợp đồng, mặt khác việc nguyên đơn thu hồi mặt bằng cũng là tuân thủ quyết định của Ủy ban nhân dân Thành phố. Vì vậy, yêu cầu này của nguyên đơn cũng có cơ sở được chấp nhận.

BẢN ÁN 581/2007/KDTM-ST NGÀY 12/04/2007 VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG THUÊ KHO BÃI

Ngày 12 tháng 4 năm 2007 tại phòng xử án của Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 268/TLST-KDTM ngày 05-5-2006 về tranh chấp hợp đồng thuê kho bãi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 689/QĐXX-KDTM ngày 06-4-2007, giữa:

Nguyên đơn TỔNG CÔNG TY ĐỊA ỐC SÀI GÒN

(CÔNG TY KHO BÃI TPHCM)

Địa chỉ 94-96 Nguyễn Du, Q. 1, TPHCM

Đại diện Ông Lê Phúc Yên, GUQ số 468/TCT-GUQ ngày 29-5-2006

Bị đơn CÔNG TY CỔ PHẦN XNK THỦY SẢN SÀI GÒN

Tên cũ CÔNG TY XNK THỦY SẢN TP.HCM

Địa chỉ Lầu 5,6,8 số 87 Hàm Nghi, Quận 1, TPHCM

Đại diện Bà Đoàn Thị Lệ Thanh

GUQ số 142/XNKTS TP.HCM ngày 20-6-2006

NHẬN THẤY

Trình bày của đại diện nguyên đơn :

Ngày 20-1-2005 Công ty Kho bãi TP.HCM và Công ty XNK Thủy Sản TP.HCM ký Hợp đồng cho thuê kho bãi số 04/TW/HĐ-2005 về việc cho thuê kho số 49 Pasteur, phường Nguyễn Thái Bình, Quận 1, TPHCM với một số điều khoản cơ bản như sau :

- Diện tích thuê : kho : 82 m2 ; bãi 621 m2

- Giá thuê : 5.881.820 đồng/tháng (đã tính thuế GTGT)

- Tiền bảo lãnh để đảm bảo thực hiện hợp đồng : 10.000.000 đồng. Được quyết toán và hoàn trả khi hai bên thanh lý hợp đồng.

- Thời hạn từ ngày 01-01-2005 đến 30-3-2005 (03 tháng).

- Trước khi hết thời hạn thuê 30 ngày, hai bên sẽ thương lượng lại và ký hợp đồng cho kỳ tiếp theo. Trường hợp không thỏa thuận được thì phải giao trả kho bãi ngay sau khi hợp đồng hết thời hạn. Nếu vượt quá thời hạn nêu trên mà chưa giao trả kho bãi thì bên thuê phải chịu phải chịu giá tăng gấp 1,2 lần so với giá ghi trong hợp đồng cho đến ngày thực tế giao trả kho bãi trống.

- Khi có quyết định thu hồi lại kho bãi của cấp có thẩm quyền thì hai bên cùng có nghĩa vụ chấp hành. Thiệt hại kinh tế phát sinh (nếu có) mỗi bên tự gánh chịu.

Diện tích thuê được thể hiện trong hợp đồng căn cứ vào diện tích Công ty XNK Thủy Sản TP.HCM sử dụng từ năm 1978 và diện tích được Cục quản trị 2 bàn giao theo biên bản ngày 28-7-1984.

Ngày 24-12-2004, UBND TPHCM có quyết định số 6459/QĐ-UB về việc hoán đổi trụ sở làm việc của Kiểm tóan nhà nước khu vực IV về việc thu hồi đất tại số 49 Pasteur, Quận 1 do Công ty Kho bãi TPHCM quản lý cho thuê giao lại cho Kiểm tóan nhà nước khu vực IV làm trụ sở làm việc.

Công ty Kho bãi TPHCM đã có công văn số 69/KHKD ngày 25-1-2005 và Công văn số 170/KHKD ngày 18-3-2005 thông báo cho Công ty XNK Thủy Sản TP.HCM chấm dứt hợp đồng cho thuê số 04/TW/HĐ-2005 và thu hồi kho bãi số 49 Pasteur, Quận 1 vào ngày 31-3-2005 để chuyển giao cho Kiểm tóan nhà nước khu vực IV. Tuy nhiên đến nay Công ty XNK Thủy Sản TP.HCM vẫn chưa thực hiện việc bàn giao.

Yêu cầu Toà án giải quyết :

- Buộc Công ty XNK Thủy Sản TPHCM giao trả mặt bằng số 49 Pasteur, Quận 1 cho Công ty Kho bãi TPHCM.

- Buộc Công ty XNK Thủy Sản TPHCM thanh tóan tiền thuê kho bãi từ tháng 5/2005 đến 31-3-2007

Công ty XNK Thủy Sản TPHCM còn tiếp tục phải trả tiền sử dụng kho sau ngày 31-3-2007 cho đến ngày giao trả mặt bằng (theo biên bản bàn giao).

Trình bày của đại diện bị đơn :

Xác nhận việc ký kết hợp đồng số 04/TW/HĐ-2005 ngày 20-1-2005 theo như trình bày của nguyên đơn.

Mặt bằng số 49 Pasteur, Quận 1 đã được Công ty XNK Thủy Sản TPHCM sử dụng liên tục từ năm 1978. Đến tháng 7/1984 Cục quản trị 2 bàn giao cho Công ty XNK Thủy Sản TPHCM ký hơp đồng để trả tiền thuê mặt bằng cho Công ty kho bãi TPHCM. Hai bên đã thỏa thuận và ký hợp đồng thuê từ 1984 đến 2004, thường thì ký mỗi năm, chỉ đến năm 2005 thì nguyên đơn chỉ ký hợp đồng 3 tháng.

Trong quá trình sử dụng Công ty XNK Thủy Sản TPHCM đã tuân thủ các quy định của pháp luật và thanh tóan tiền thuê đầy đủ, là cơ sở vật chất của công ty không thể thiếu được, nếu Công ty Kho bãi TPHCM lấy lại mặt bằng sẽ ảnh hưởng đến họat động sản xuất kinh doanh của công ty. Khi nhận được thông báo thu hồi mặt bằng của công ty Kho bãi TPHCM, công ty XNK Thủy Sản TPHCM đã gửi công văn đến cơ quan các cấp để trình bày những khó khăn nếu bị thu hồi mặt bằng nhưng cho đến nay chưa được giải quyết.

Hiện nay công XNK Thủy Sản TPHCM đang tiến hành quá trình cổ phần hóa nên việc thu hồi mặt bằng sẽ làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của đơn vị và công việc làm của cán bộ nhân viên công ty.

ban-an-581-2007-KDTM-ST

>>> Luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài: 1900.6568

Công ty XNK Thủy Sản TPHCM đề nghị với Công ty Kho bãi TPHCM tiếp tục cho thuê mặt bằng số 49 Pasteur, Quận 1, TPHCM và cho thanh tóan tiền thuê mặt bằng từ ngày 01-5-2005 theo giá chậm trả kho 7.058.184 đồng/tháng. Thực tế Công ty XNK Thủy Sản TPHCM có đến Công ty Kho bãi TPHCM để thanh toán tiền thuê mặt bằng nhưng Công ty Kho bãi TPHCM không nhận vì lý do Công ty XNK Thủy Sản TPHCM chưa giao trả mặt bằng.

Công ty XNK Thủy Sản TPHCM có bỏ ra một số chi phí để sửa chữa cải tạo văn phòng làm việc nhưng không xác định được là bao nhiêu.

Đề nghị Toà án xem xét quá trình lịch sử và tình hình thực tế của công ty khi phán quyết.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

1- Về quan hệ đang tranh chấp, thẩm quyền giải quyết vụ kiện:

Công ty xuất nhập khẩu thủy sản TP Hồ Chí Minh đã được chuyển thành Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Sài Gòn theo Quyết định số 604/QĐ-BTS ngày 08-8-2006 của Bộ Thủy sản.

Nội dung tranh chấp giữa Tổng công ty địa ốc Sài Gòn và Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Sài Gòn (Công ty xuất nhập khẩu thủy sản TP Hồ Chí Minh) là hợp đồng thuê kho bãi. Đây là tranh chấp về kinh doanh thương mại. Căn cứ vào khoản e Điều 29 và Điều 34 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh thụ lý và giải quyết là phù hợp quy định của pháp luật về thẩm quyền.

2. Về yêu cầu của nguyên đơn :

Về yêu cầu đòi tiền thuê 162.338.232 đồng, tính từ tháng 5/2005 đến tháng 3/2007, giá thuê 7.058.184 đồng, Hội đồng xét xử xét thấy nguyên đơn đã căn cứ các thỏa thuận trong Điều 1.2 và Điều 2.1.2 của hợp đồng để tính tiền thuê và cũng đã được bị đơn xác nhận. Do đó, yêu cầu này của nguyên đơn là chính đáng nên được chấp nhận.

Về yêu cầu đòi lại mặt bằng, Hội đồng xét xử có nhận định như sau : Hợp đồng có thời hạn từ 1-1-2005 đến 30-3-2005. Sau khi hết thời hạn thuê các bên đã không thỏa thuận được việc tiếp tục thuê nên nguyên đơn đòi lại mặt bằng là không vi phạm hợp đồng, mặt khác việc nguyên đơn thu hồi mặt bằng cũng là tuân thủ quyết định của Uûy ban nhân dân Thành phố. Vì vậy, yêu cầu này của nguyên đơn cũng có cơ sở được chấp nhận.

Việc bị đơn trình bày có sửa chữa một số công trình để sử dụng làm văn phòng, việc sửa chữa này có thông báo cho nguyên đơn bằng điện thoại nhưng không xác định được chi phí sửa chữa là bao nhiêu, đồng thời bị đơn cũng đã xác định Điều 4.1 hợp đồng qui định trong trường hợp khi có quyết định thu hồi lại kho bãi của cấp có thẩm quyền thì hai bên cùng có nghĩa vụ chấp hành, thiệt hại kinh tế phát sinh (nếu có) mỗi bên tự gánh chịu nên Hội đồng xét xử không xem xét những chi phí này.

Việc bị đơn viện dẫn lý do đã có quá trình sử dụng lâu dài, việc thu hồi sẽ ảnh hưởng đến hoạt động của công ty nên yêu cầu được tiếp tục thuê hoặc cho công ty được thuê mặt bằng khác tương ứng là không thỏa đáng vì việc thuê và cho thuê là do thỏa thuận và là giao dịch tự nguyện không thể ép buộc.

Về việc nguyên đơn yêu cầu bị đơn tiếp tục thanh toán tiền sử dụng kho bãi kể từ tháng 4-2007 đến thời điểm bàn giao. Hội đồng xét xử cho rằng khi bị đơn vẫn tiếp tục khai thác lợi ích từ tài sản của nguyên đơn thì phải có nghĩa vụ trở lại là hợp lý. Do đó, yêu cầu này của nguyên đơn có cơ sở được chấp nhận.

3.Về án phí

Căn cứ Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ qui định về án phí, lệ phí tòa án.

Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Sài Gòn (Công ty xuất nhập khẩu thủy sản TP Hồ Chí Minh) phải chịu án phí trên số tiền phải thanh toán cho nguyên đơn.

Tổng công ty địa ốc Sài Gòn không phải chịu án phí nên được nhận lại toàn bộ tạm ứng án phí đã nộp.

Từ các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 phần III Thông tư liên tịch số 01-TT/LT ngày 19 tháng 6 năm 1997 của Tòa án nhân dân tối cao -Viện Kiểm sát nhân dân tối cao - Bộ Tư pháp - Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản,

1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn

Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Sài Gòn (Tên cũ : Công ty xuất nhập khẩu thủy sản TP Hồ Chí Minh) thanh toán tiền sử dụng kho bãi 49 Pasteur, Quận 1, TPHCM từ tháng 5-2005 đến hết tháng 3-2007 cho Tổng công ty địa ốc Sài Gòn (Công ty kho bãi TPHCM), số tiền là 162.338.232 đồng

Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Sài Gòn có trách nhiệm bàn giao lại kho bãi 49 Pasteur, Quận 1, TPHCM cho Tổng công ty địa ốc Sài Gòn (Công ty kho bãi TPHCM).

Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Sài Gòn tiếp tục phải trả tiền sử dụng kho bãi từ tháng 4-2007 cho đến khi bàn giao xong cho Tổng công ty địa ốc Sài Gòn (Công ty kho bãi TPHCM).

3. Về án phí:

Công ty cổ phần xuất nhập khẩu thủy sản Sài Gòn phải chịu án phí là 7.492.000 đồng.

Tổng công ty địa ốc Sài Gòn không phải chịu án phí nên được nhận lại 2.041.085 đồng, là tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 001805 ngày 14-4-2006 của Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh.

Việc thi hành án được thực hiện tại Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khỏan tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khỏan tiền, hàng tháng, bên phải thi hành án còn phải chịu khỏan tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước qui định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Quý khách hàng, người truy cập vui lòng tra cứu kỹ hiệu lực của văn bản trước khi áp dụng. Các văn bản đăng tải trên Website có thể đã hết hiệu lực hoặc đã bị thay thế. Để được tư vấn pháp luật miễn phí vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn luật trực tuyến 24/7 của Luật sư: 1900.6568 để nhận được ý kiến tư vấn chính xác nhất! 

--------------------------------------------------------

(Lượt xem : 198)

Chuyên viên tư vấn: Nguyễn Văn Linh

Nếu bạn thấy bài viết hữu ích, hãy ấn like để ủng hộ luật sư tư vấn