Bản án 24/2007/KDTM-PT về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng
Bạn đang xem bài viết: Bản án 24/2007/KDTM-PT về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng

Bản án 24/2007/KDTM-PT về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tòa phúc thẩm y án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam – chi nhánh Hưng Đạo buộc người vay tiền phải trả số tiền nợ vốn (vay tiền mua xe ô tô) và số tiền lãi quá hạn, đồng thời phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh (tính trên số tiền nợ vốn theo mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định) cho đến ngày thanh tốn xong số tiền nợ vốn

BẢN ÁN 24/2007/KDTM-PT NGÀY 27/03/2007 VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG TÍN DỤNG 

Nguyên đơn: Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam.

Bị đơn: Bà Ngô Thị Ngọc Phương.

NHẬN THẤY

Trong đơn khởi kiện và tại tòa Nguyên đơn Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam trình bày:

Theo hợp đồng trung và dài hạn số 31060/HĐTD/TH – TN/TCB ngày 04/7/2005 bà Ngô Thị Ngọc Phương có vay của Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam chi nhánh Hưng Đạo số tiền 270.000.000 đồng, thời hạn vay 36 tháng, lãi suất 1,1%/tháng (lãi suất được điều chỉnh hàng năm theo điều 1.4.2 của HĐTD trên), ngày giải ngân 26/7/2005 đến hạn ngày 26/7/2008, mục đích vay để mua xe ô tô. Tài sản đảm bảo: bà Ngô Thị Ngọc Phương cầm cố chiếc xe Toyota Zace GL biển số 52Y – 4719, số khung: KF3 – 6913862, số máy: 7K – 0786906 cho Techcombank – chi nhánh Hưng Đạo tại hợp đồng cầm cố tài sản số 31060/HĐCC/TCB.HĐ ngày 10/8/2005 (đã được công chứng chứng thực số 20131 ngày 10/8/2005 tại phòng công chứng số 2, thành phố Hồ Chí Minh).

Theo quy định tại Hợp đồng tín dụng nêu trên và phụ lục hợp đồng số 31060 ngày 26/7/2005 thì bên vay phải trả nợ lãi hàng tháng cho Ngân hàng vào đúng ngày nhận nợ và nợ gốc được trả thành nhiều lần. Trường hợp bên vay không trả được nợ gốc và nợ lãi đúng hạn thì phải chịu lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn theo quy định của Ngân hàng Nhà nước.

Thực hiện hợp đồng ngày 14/12/2005 bị đơn trả được 10.000.000 đồng (Trong đó có tiền vốn gốc là 1.174.176 đồng, lãi là 8.820.091 đồng). Từ ngày 15/12/2005 đến nay không thực hiện trả vốn gốc và lãi theo quy định của hợp đồng.

Nay Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam yêu cầu bà Ngô Thị Ngọc Phương có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng số tiền nợ gốc và số tiền lãi quá hạn là 318.245.075 đồng( trong đó nợ vốn vay là 268.825.824 đồng và số tiền lãi quá hạn là 49.419.251 đồng tính từ ngày 15/12/2005 đến ngày 15/12/2006), cùng số tiền lãi phát sinh từ ngày 16/12/2006 cho đến ngày hoàn trả xong số tiền vốn gốc.

Bị đơn bà Ngô Thị Ngọc Phương xác nhận : Bà còn nợ Ngân hàng số tiền nợ vốn vay là 268.825.824 đồng, và số tiền lãi quá hạn là 49.419.251 đồng, (tính từ ngày 15/12/2005 đến ngày 15/12/2006) như đại diện của Ngân hàng đ trình by là đúng, nhưng bà xin được trả nợ dần trong thời hạn 03 năm.

Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 646/2006/KDTM-ST ngày 15/12/2006 Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh đã quyết định:

Căn cứ điểm m khoản 1 Điều 29 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 327; 336 Bộ luật dân sự.

Căn cứ Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính Phủ quy định về án phí, lệ phí của Tòa án.

Căn cứ thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của Tòa án nhân dân tối cao, viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ tư pháp và Bộ tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản.

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam – chi nhánh Hưng Đạo. Xử:

1. Bị đơn bà Ngô Thị Ngọc Phương có trách nhiệm trả cho nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam – chi nhánh Hưng Đạo số tiền vốn vay và lãi suất còn thiếu theo hợp đồng tín dụng trung và dài hạn số 31060/HĐTD/TH – TN/TCB ngày 04/7/2005 và phụ lục hợp đồng số 31060 ngày 26/7/2005 là 318.245.075 đồng, trong đó nợ vốn vay là 268.825.824 đồng, và số tiền lãi quá hạn là 49.419.251 đồng (lãi tính từ ngày 15/12/2005 đến ngày 15/12/2006) ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra bị đơn còn phải trả tiếp cho nguyên đơn số tiền lãi từ ngày 16/12/2006 cho đến khi thanh toán xong số tiền vốn gốc.

2. Nếu bị đơn bà Ngô Thị Ngọc Phương không trả đủ số tiền nêu trên cho nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam – chi nhánh Hưng Đạo thì Thi hành án thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiến hành phát mãi tài sản cầm cố là chiếc xe Toyota Zace GL biển số 52Y – 4719, số khung: KF3 – 6913862, số máy: 7K – 0786906 theo hợp đồng cầm cố tài sản số 31060/HĐCC/TCB.HĐ ngày 10/8/2005 có công chứng Nhà nước số 20131 ngày 10/8/2005 để trả số tiền trên cho nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam – chi nhánh Hưng Đạo, sau khi trừ chi phí nếu thiếu thì bà Phương phải trả tiếp, nếu dư thì sẽ trả lại cho phía bà Phương.

Kể từ ngày nguyên đơn Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam – chi nhánh Hưng Đạo có đơn yêu cầu thi hành án nếu bị đơn bà Ngô Thị Ngọc Phương không trả đủ số tiền nêu trên thì hàng tháng bị đơn còn phải trả cho nguyên đơn số tiền lãi theo mức lãi suất nợ quá hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời gian chưa thi hành án.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về mức án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 22/12/2006 bà Ngô Thị Ngọc Phương có đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, với lý do: Cán bộ Ngân hàng nói cho phép b trả lãi hàng tháng và trả nợ gốc cuối kỳ, nhưng sau đó phía Ngân hàng buộc b phải trả lãi và nợ gốc góp hàng tháng, điều này nằm ngòai khả năng dự liệu, nên bà không thể thực hiện theo yêu cầu của phía Ngân hàng. Đồng thời, b yêu cầu Tồ xem xét cho bà được trả nợ vốn và lãi trong thời hạn 03 năm.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Phương vẫn giữ yêu cầu như đã nêu trong đơn kháng cáo.

Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam – chi nhánh Hưng Đạo đề nghị được giữ nguyên bản án sơ thẩm.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Căn cứ Hợp đồng tín dụng trung hạn và dài hạn số 31060/ HĐTD/TH – TN/TCB ngày 04/7/2005 và phụ lục hợp đồng số 31060 ngày 10/8/2005 mà bà phương đã ký kết với Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam – chi nhánh Hưng Đạo thì bà Phương phải có trách nhiệm trả nợ gốc và lãi vào ngày 26 hàng tháng, thời hạn trả trong vòng 36 tháng. Trong trường hợp bên vay không hòan trả nợ gốc, lãi theo đúng thời hạn đã cam kết thì Ngân hàng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Và trong vòng 30 ngày kể từ khi Ngân hàng tuyên bố chấm dứt hợp đồng thì bên vay phải có trách nhiệm thanh toán cho Ngân hàng tòan bộ các khoản nợ gốc, lãi, nợ quá hạn, chi phí khác (nếu có) tính đến thời điểm Ngân hàng tuyên bố chấm dứt Hợp đồng (khoản 10.2 Điều 10 của Hợp đồng). Nếu quá thời hạn này bên vay không thanh toán thì các khoản còn thiếu sẽ chuyển sang nợ quá hạn và phải chịu lãi thanh toán nợ quá hạn (tiết ii, điểm 10.3.1 khỏan 10.3 Điều 10). Đồng thời được xử lý tài sản đảm bảo.

Sự thỏa thuận nêu trên giữa ngân hàng và bà Phương là tự nguyện, không trái quy định của pháp luật, nên có giá trị buộc các bên phải chấp hành.

ban-an-24-2007-KDTM-PT

>>> Lut sư tư vn pháp lut trc tuyến qua tng đài: 1900.6568

Sau khi vay tiền, bà Phương chỉ trả cho Ngân Hàng 10.000.000 đồng (trong đó tiền nợ gốc là 1.174.176 đồng và lãi là 8.820.091 đồng). Từ ngày 15/12/2005 đến nay bà Phương không thực hiện việc trả vốn và lãi cho Ngân hàng (mặc dù ngân hàng đã nhiều lần mời bà Phương đến lập biên bản làm việc và ra thông báo nhắc nhở việc trả nợ).

Do đó, án sơ thẩm chấp nhận yêu cầu cuả Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam – chi nhánh Hưng Đạo buộc bà Phương phải trả cho Ngân ầang số tiền nợ vốn là 268.825.824 đồng và số tiền lãi quá hạn là 49.419.251 đồng (tính từ ngày 15/12/2005 đến ngày 15/12/2006), đồng thời phaỉ tiếp tục trả tiền lãi phát sinh (tính trn số tiền nợ vốn theo mức lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất vay trong hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định) kể từ ngày 16/12/2006 cho đến ngày thanh tốn xong số tiền nợ vốn. Nếu b Phương không trả đủ số tiền nêu trên thì yêu cầu Thi hành án thành phố Hồ Chí Minh tiến hành phát mãi tài sản cầm cố là chiếc xe Toyota Zace GL biển số 52Y – 4719 (mà bà Phương đã cầm cố tại Hợp đồng cầm cố tài sản số 20131 ngày 10/8/2005 cĩ chứng thực cuả Công chứng nhà nước) là có căn cứ, đúng pháp luật.

Bà Ngô Thị Ngọc Phương kháng cáo cho rằng : Trước khi ký hợp đồng vay tiền, cán bộ Ngân hàng nói cho phép bà trả lãi hàng tháng và trả nợ gốc cuối kỳ, nhưng sau đó phía Ngân hàng buộc bà phải trả lãi và nợ gốc góp hàng tháng, điều này nằm ngoài khả năng dự liệu nên bà không thể thực hiện theo yêu cầu của phía Ngân hàng. Hội đồng xét xử xét thấy: Taị Hợp đồng tín dụng trung hạn và dài hạn số 31060/ HĐTD/TH – TN/TCB ngày 04/7/2005 và phụ lục hợp đồng số 31060 ngày 10/8/2005 mà bà phương đã ký kết với Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam – chi nhánh Hưng Đạo thì bà Phương phải có trách nhiệm trả nợ gốc và lãi vào ngày 26 hàng tháng. Tại phiên toà phúc thẩm, bà Phương không xuất trình được chứng cứ nào khác chứng minh cho lời khai trê n cuả bả, nên không có cơ sở chấp nhận.

Các quyết định khác của cấp sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đều phát sinh hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

An phí dân sự phúc thẩm: Bà Phương phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ:

- Khoản 1 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự .

- Điều 327, 336, khoản 2 Điều 379 Bộ luật dân sự năm năm 2005.

- Điều 54 Luật tín dụng.

- Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Ngô Thị Ngọc Phương.

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân Hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam – chi nhánh Hưng Đạo.

Bà Ngô Thị Ngọc Phương phảỉ trả cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam – chi nhánh Hưng Đạo số tiền nợ vốn vay là 268.825.824 đồng, và số tiền lãi quá hạn là 49.419.251 đồng( tính từ ngày 15/12/2005 đến ngày 15/12/2006). Ngoài ra, bà Phương còn phải trả tiếp cho Ngân ầang số tiền lãi phát sinh tính từ ngày 16/12/2006 cho đến khi thanh toán xong số tiền nợ vốn.

Trong trường hợp bà Ngô Thị Ngọc Phương không trả đủ ngay số tiền nêu trên cho Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Kỹ Thương Việt Nam – chi nhánh Hưng Đạo thì Thi hành án thành phố Hồ Chí Minh sẽ tiến hành phát mãi tài sản cầm cố là chiếc xe Toyota Zace GL biển số 52Y – 4719, số khung: KF3 – 6913862, số máy: 7K – 0786906 để trả số tiền trên cho Ngân hàng (sau khi trừ chi phí nếu thiếu thì bà Phương phải trả tiếp phần còn thiếu đó, nếu dư thì bà Phương được nhận laị).

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm, không kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

An phí phúc thẩm: Bà Phương phải chịu 200.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí phúc thẩm đã nộp 200.000 đồng tại biên lai thu 003744 ngày 25/12/2006 của Thi hành án thành phố Hồ Chí Minh. B Phương đ nộp đủ n phí phc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Quý khách hàng, người truy cập vui lòng tra cứu kỹ hiệu lực của văn bản trước khi áp dụng. Các văn bản đăng tải trên Website có thể đã hết hiệu lực hoặc đã bị thay thế. Để được tư vấn pháp luật miễn phí vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn luật trực tuyến 24/7 của Luật sư: 1900.6568 để nhận được ý kiến tư vấn chính xác nhất! 

--------------------------------------------------------

(Lượt xem : 87)

Chuyên viên tư vấn: Nguyễn Văn Linh

Nếu bạn thấy bài viết hữu ích, hãy ấn like để ủng hộ luật sư tư vấn