Bản án 21/2007/KDTM-PT về việc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán
Bạn đang xem bài viết: Bản án 21/2007/KDTM-PT về việc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán

Bản án 21/2007/KDTM-PT về việc yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán

Tòa phúc thẩm nhận thấy Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán 70 triệu đồng vốn và lãi phát sinh tính từ ngày 16/10/2004 đến ngày xét xử sơ thẩm là 23 tháng 20 ngày với mức lãi suất 1%/tháng thành tiền là 16.566.666 đồng là có căn cứ pháp luật. Do vậy, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Hà Hải, giữ nguyên bản án sơ thẩm. 

BẢN ÁN 21/2007/KDTM-PT NGÀY 08/03/2007 VỀ VIỆC YÊU CẦU THỰC HIỆN NGHĨA VỤ THANH TOÁN

Nguyên đơn: Công ty TNHH Cơ khí Quang Trung

Bị đơn: Công ty TNHH Thương mại Hà Hải

NHẬN THẤY

- Trong đơn khởi kiện ngày 29/5/2006, nguyên đơn là Công ty TNHH cơ khí Quang Trung (viết tắt là Công ty Quang Trung) trình bày: Giữa nguyên đơn với Công ty TNHH thương mại Hà Hải (viết tắt là Công ty Hà Hải) có ký kết và thực hiện các hợp đồng kinh tế số 07/HĐKT ngày 11/12/2003, số 04/HĐKT ngày 26/7/2004 và phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐKT ngày 6/5/2004 về việc mua bán, vận chuyển và lắp đặt thiết bị chế biến mủ cao su SVR 10. Đến ngày 16/10/2004, hai bên tiến hành nghiệm thu và đưa thiết bị vào quản lý, sử dụng theo các hợp đồng nêu trên. Tổng giá trị mà Công ty Hà Hải phải thanh toán ghi nhận trên các hợp đồng là 1.610.000.000 đồng. Tuy nhiên, qua nhiều lần thanh toán, Công ty Hà Hải chỉ mới thanh toán số tiền là 1.540.000.000 đồng, còn nợ lại 70.000.000 đồng. Chúng tôi đã nhiều lần gửi văn bản đề nghị Công ty Hà Hải thanh toán số tiền còn lại nhưng không được đáp ứng.

Nguyên đơn có yêu cầu Công ty Hà Hải thanh toán số tiền còn nợ là 70.000.000 đồng cùng lãi suất nợ quá hạn theo quy định của Ngân hàng nhà nước tính từ ngày 16/10/2004 đến nay.

- Tại văn bản ngày 01/8/2006 với nội dung biên bản hòa giải của Toà án lập ngày 10/8/2006, đại diện của bị đơn, ông Nguyễn Ngọc Luân, giám đốc Công ty Hà Hải trình bày:

Việc ký kết và thực hiện hợp đồng kinh tế số 07/HĐKT ngày 11/12/2003, số 04/HĐKT ngày 26/7/2004 và phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐKT ngày 6/5/2004 về việc mua bán, vận chuyển và lắp đặt thiết bị chế biến mủ cao su giữa hai bên là có thật. Sau khi nghiệm thu hợp đồng, Công ty Hả Hải còn nợ Công ty Quang Trung số tiền 70.000.000 đồng. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty Quang Trung đã nhiều lần có hành vi gây thiệt hại cho Công ty Hà Hải, như việc giao máy chế biến mủ cao su trễ hạn, lắp băng tải của máy sai thông số kỹ thuật, không đảm bảo quy định về bảo hành sản phẩm, với tổng giá trị thiệt hại khoảng 101.215.796 đồng. Sở dĩ, Công ty Hà Hải vẫn chấp nhận tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có ý kiến yêu cầu bồi thường là vì khi ký kết hợp đồng, người tham gia đại diện cho Công ty Hà Hải không có thẩm quyền nên sợ hợp đồng kinh tế bị vô hiệu do lỗi của mình mà ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất của công ty.

Theo yêu cầu khởi kiện của Công ty Quang Trung, Công ty Hà Hải không có yêu cầu phản tố và cũng không chấp nhận thanh toán số tiền 70.000.000 đồng còn nợ và lãi suất vì xem như số tiền này đã được bù trừ nghĩa vụ đối với những thiệt hại mà Công ty Quang Trung đã gây ra cho Công ty Hà Hải.

Tại bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm số 09/2006/KDTM ngày 06 tháng 9 năm 2006 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương đã quyết định:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH Cơ khí Quang Trung đối với Công ty TNHH thương mại Hà Hải về việc thanh toán số tiền còn nợ trong việc thực hiện các hợp đồng kinh tế về mua bán, vận chuyển và lắp đặt thiết bị chế biến mủ cao su.

2/ Buộc Công ty TNHH thương mại Hà Hải phải thanh toán cho Công ty TNHH cơ khí Quang Trung số tiền 70.000.000 đồng (bảy mươi triệu đồng) và tiền lãi do chậm thanh toán là 16.566.666 đồng (mười sáu triệu năm trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi sáu đồng).

Kể từ ngày Công ty TNHH cơ khí Quang Trung có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty TNHH thương mại Hà Hải không thanh toán số tiền này, thì còn phải chịu thêm lãi suất nợ quá hạn theo mức quy định của Ngân hàng nhà nước tương ứng với số tiền và thời gian chưa thực hiện thanh toán.

Ngoài ra Toà án cấp sơ thẩm còn tuyên xử về phần án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 09/9/2006 Công ty TNHH thương mại Hà Hải có đơn kháng cáo với nội dung xin xét xử lại vụ án.

Tại phiên toà ông Nguyễn Ngọc Luân đại diện Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Hà Hải giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: ngày 11/12/2003 ông Nguyễn Ngọc Luân ký hợp đồng số 07/HĐKT không được sự ủy quyền của ông Lưu Vũ Hải giám đốc Công ty Hà Hải và ông Luân ký chuyển tiền cho Công ty Quang Trung ông Hải cũng không biết. Vậy thời điểm ký phụ lục hợp đồng kinh tế số 01/PLHĐKT ngày 06/5/2004 thì hợp đồng số 07 đã vô hiệu. Phụ lục hợp đồng tăng tiền, thời gian chế tạo, lắp đặt máy kéo dài và Công ty Quang Trung không sửa chữa máy trong thời gian bảo hành gây thiệt hại cho Công ty Hà Hải là 101.215.796 đồng và Toà án sơ thẩm chưa xét yêu cầu phản tố của bị đơn. Căn cứ Điều 5 của hợp đồng số 4 thì thẩm quyền xét xử vụ án thuộc Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh, Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương thụ lý, xét xử là sai. Đề nghị hủy bản án sơ thẩm, giao cho Toà án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử.

>>> Lut sư tư vn pháp lut trc tuyến qua tng đài: 1900.6568

Ông Phạm Anh Tuấn đại diện cho Công ty trách nhiệm hữu hạn cơ khí Quang Trung đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.

XÉT THẤY

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Hà Hải với Công ty trách nhiệm hữu hạn cơ khí Quang Trung ký hợp đồng kinh tế số 07/HĐKT ngày 11/12/2003 về việc cung cấp máy chế biến cao su và phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐKT ngày 06/5/2004 để điều chỉnh giá của hợp đồng số 07. Và ngày 26/7/2004 hai bên ký tiếp hợp đồng số 04/HĐKT/04 về việc chi phí vận chuyển, lắp đặt thiết bị. Tổng giá trị của các hợp đồng là 1.610.000.000 đồng. Sau khi thanh toán Công ty Hà Hải còn nợ Công ty Quang Trung 70.000.000 đồng.

Hai bên tranh chấp hợp đồng tập trung chủ yếu là hợp đồng số 7 và phụ lục hợp đồng như ông Luân thừa nhận tại phiên toà phúc thẩm. Thời điểm ký hợp đồng pháp luật chưa quy định các bên đương sự thỏa thuận sự lựa chọn Toà án nơi có trụ sở của nguyên đơn để giải quyết vụ án khi có tranh chấp. Công ty Hà Hải là bị đơn có trụ sở tại Bình Dương, do đó Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương thụ lý, xét xử là đúng thẩm quyền.

Tuy các hợp đồng và phụ lục hợp đồng do phó giám đốc Nguyễn Ngọc Luân đại diện Công ty Hà Hải ký, nhưng trong thời gian thực hiện hợp đồng Ban giám đốc của hai Công ty không phản đối. Mặt khác, ông Lưu Vũ Hải giám đốc Công ty Hà Hải là người ký biên bản nghiệm thu bàn giao đưa thiết bị vào quản lý và sử dụng, đồng thời biết rõ việc chuyển tiền thanh toán cho Công ty Quang Trung. Ông Hải mặc nhiên chấp thuận việc cấp phó ký hợp đồng. Do đó, các hợp đồng hai bên Công ty đã ký kết không bị coi là vô hiệu.

Đối với phụ lục hợp đồng số 01/PLHĐKT ngày 06/5/2004 do Công ty Hà Hải với Công ty Quang Trung ký kết để điều chỉnh giá. Đây là sự tự nguyện thỏa thuận của các bên đương sự, không có chứng cứ cho rằng bên nào bị ép buộc. Mặt khác, sau khi ký kết không có văn bản thể hiện điều gì khác và vẫn tiếp tục thanh toán tiền. Do vậy, có thiệt hại cho bên nào thì bên đó phải gánh chịu.

Về thời gian thực hiện hợp đồng cho đến ngày nghiệm thu đưa vào quản lý sử dụng máy móc Công ty Hà Hải không có văn bản hoặc ý kiến gì về việc thiệt hại và trong quá trình thu thập chứng cứ đến khi xét xử sơ thẩm Công ty Hà Hải không xuất trình được văn bản gởi cho nguyên đơn để thông báo máy móc hư hỏng yêu cầu sửa chữa, cũng không có yêu cầu phản tố trong vụ án. Nhưng Công ty Hà Hải thừa nhận còn nợ Công ty Quang Trung 70 triệu đồng và yêu cầu nguyên đơn cấn trừ thiệt hại vào 70 triệu đồng chưa thanh toán, Công ty Quang Trung không chấp nhận.

Từ những phân tích trên xét thấy Toà án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán 70 triệu đồng vốn và lãi phát sinh tính từ ngày 16/10/2004 đến ngày xét xử sơ thẩm là 23 tháng 20 ngày với mức lãi suất 1%/tháng thành tiền là 16.566.666 đồng là có căn cứ pháp luật. Do vậy, không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty Hà Hải, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Công ty Hà Hải phải chịu án phí phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về án phí của nguyên đơn và quyền kháng cáo không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự.

QUYẾT ĐỊNH

Không chấp nhận kháng cáo của Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Hà Hải, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Áp dụng Điều 154, 285, 286, 288 và 295 Bộ luật dân sự.

1- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty trách nhiệm hữu hạn cơ khí Quang Trung đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Hà Hải về việc thanh toán số tiền còn nợ trong việc thực hiện các hợp đồng kinh tế về mua bán, vận chuyển và lắp đặt thiết bị chế biến mủ cao su.

2- Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Hà Hải phải thanh toán cho Công ty trách nhiệm hữu hạn cơ khí Quang Trung số tiền 70.000.000 (bảy mươi triệu) đồng và tiền lãi do chậm thanh toán là 16.566.666 (mười sáu triệu năm trăm sáu mươi sáu ngàn sáu trăm sáu mươi sáu) đồng.

Kể từ ngày Công ty trách nhiệm hữu hạn cơ khí Quang Trung có đơn yêu cầu thi hành án, nếu Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Hà Hải không thanh toán số tiền nầy, thì còn phải chịu thêm lãi suất nợ quá hạn theo mức quy định của Ngân hàng nhà nước tương ứng với số tiền và thời gian chưa thực hiện thanh toán.

3- Về án phí :

Công ty trách nhiệm hữu hạn thương mại Hà Hải phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 4.328.333 (bốn triệu ba trăm hai mươi tám ngàn ba trăm ba mươi ba) đồng và phải chịu án phí dân sự phúc thẩm là 200.000 (hai trăm ngàn) đồng (đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 9844 ngày 18/9/2006 của Phòng thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương).

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm về án phí của nguyên đơn và quyền kháng cáo không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Quý khách hàng, người truy cập vui lòng tra cứu kỹ hiệu lực của văn bản trước khi áp dụng. Các văn bản đăng tải trên Website có thể đã hết hiệu lực hoặc đã bị thay thế. Để được tư vấn pháp luật miễn phí vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn luật trực tuyến 24/7 của Luật sư: 1900.6568 để nhận được ý kiến tư vấn chính xác nhất! 

--------------------------------------------------------

(Lượt xem : 82)

Chuyên viên tư vấn: Nguyễn Văn Linh

Nếu bạn thấy bài viết hữu ích, hãy ấn like để ủng hộ luật sư tư vấn