Bản án 18/2007/KDTM-PT về việc tranh chấp hợp đồng mua bán và dịch vụ
Bạn đang xem bài viết: Bản án 18/2007/KDTM-PT về việc tranh chấp hợp đồng mua bán và dịch vụ
21/04/2017 08:05:32 Luật Dương gia Luật Dương gia Luật Dương gia Luật Dương gia Luật Dương gia

Bản án 18/2007/KDTM-PT về việc tranh chấp hợp đồng mua bán và dịch vụ

Tòa phúc thẩm y án sơ thẩm: Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn. Công ty TNHH Rồng Thái Bình Dương có trách nhiệm thanh toán số tiền mua hàng còn thiếu cho Công ty TNHH Trực Tiếp

BẢN ÁN 18/2007/KDTM-PT NGÀY 28/02/2007 VỀ VIỆC TRANH CHẤP HỢP ĐỒNG MUA BÁN VÀ DỊCH VỤ

Nguyên đơn: Công ty TNHH Trực Tiếp

Bị đơn: Công ty TNHH Rồng Thái Bình Dương

NHẬN THẤY

Nguyên đơn Công ty TNHH Trực Tiếp trình bày:

Giữa nguyên đơn và bị đơn là Công ty TNHH Rồng Thái Bình Dương có giao kết hợp đồng kinh tế số 138/HĐKT ký ngày 16/9/2004 trị giá 16.800 USD, sau khi trừ chiết khấu 5% (840 USD) còn 15.960 USD; kèm phụ lục hợp đồng ngày 19/9/2004 trị giá 380,80 USD, sau khi trừ chiết khấu 5% còn 361,76 USD; và hoá đơn mua hàng số 81441 ngày 04/12/2004 trị giá 4.682.980 đồng. Tổng cộng trị giá tiền hàng là 16.321,76 USD.

Hai bên thoả thuận trừ tiền chi phí cho hợp đồng quảng cáo thương hiệu CAV do Công ty TNHH Trực Tiếp đặt hàng là 6.246 USD. Trị giá số lượng hàng hoá do bên Công ty TNHH Trực Tiếp đã bán và Công ty TNHH Rồng Thái Bình Dương có trách nhiệm thanh toán trị giá tiền hàng còn lại là 10.075,76 USD và 4.682.980 đồng về mua bán và quảng cáo hàng hoá.

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thực hiện hợp đồng là không thanh toán tiền mua hàng hoá nên nguyên đơn yêu cầu Toà án giải quyết buộc bị đơn thanh toán tiền mua hàng còn thiếu bằng tiền đồng Việt Nam tương đương 2.914 USD và hoàn trả lại tiền chi phí cho việc quảng cáo tại địa điểm kinh doanh của bị đơn trong 9 tháng bằng tiền đồng Việt Nam tương đương 6.246 USD trong thời hạn sớm nhất.

Bị đơn Công ty TNHH Rồng Thái Bình Dương trình bày:

Bị đơn xác nhận có ký kết hợp đồng mua bán hàng điện tử với nguyên đơn và thực hiện quảng cáo thương hiệu của nguyên đơn tại Siêu thị điện máy Vietnamshops của bị đơn đúng theo nội dung trong hợp đồng đã ký kết. Trong quá trình thực hiện hợp đồng bị đơn xác nhận còn thiếu nguyên đơn số tiền 2.914 USD chưa thanh toán. Tuy nhiên vì phía nguyên đơn cung cấp hàng hoá là 2 dàn máy MD 1 và AP 50 với tổng giá trị là 2.530,40 USD không phải là hàng mới 100% không thể bán được nên đã có yêu cầu đổi hàng. Phía bị đơn đã nhiều lần yêu cầu bằng văn bản nhưng chưa được giải quyết. Vì vậy yêu cầu nguyên đơn thu hồi số sản phẩm trên và chuyển đổi hàng mới theo đúng nội dung thoả thuận giữa hai bên, sau đó bị đơn sẽ thanh toán số tiền hàng còn thiếu cho nguyên đơn.

Về yêu cầu hoàn trả chi phí quảng cáo thương hiệu của nguyên đơn, bị đơn không chấp nhận vì cho rằng sau khi ký kết nội dung này bị đơn đã thuê Công ty TNHH quảng cáo Anh Việt thực hiện và đến nay vẫn thực hiện đúng tinh thần đã thoả thuận trong hợp đồng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là Công ty TNHH quảng cáo Ánh Việt – có bà Trương Ngọc Anh – Tổng giám đốc trình bày:

Việc ký kết hợp đồng quảng cáo giữa Công ty TNHH Rồng Thái Bình Dương với Công ty TNHH quảng cáo Anh Việt đã thực hiện xong, có biên bản nghiệm thu nên công ty không liên quan gì đến tranh chấp giữa nguyên đơn và bị đơn.

Tại bản án số 220/KDTM-ST ngày 10/8/2005 Toà án nhân dân TP. Hồ Chí Minh đã xử:

- Công ty TNHH Rồng Thái Bình Dương có trách nhiệm thanh toán số tiền mua hàng còn thiếu cho Công ty TNHH Trực Tiếp là 46.163.580 đồng tương đương 2.914 USD.

- Công ty TNHH Trực Tiếp có trách nhiệm thu hồi 2 dàn máy MD1 (theo phiếu giao hàng ngày 16/9/2004) trị giá 1.435,40 USD và AP50 trị giá 1.095 USD (theo phiếu giao hàng ngày 13/10/2004) và đổi lại 2 dàn máy MD1 và AP50 tỷ lệ còn mới 100% hiệu CAV cho Công ty TNHH Rồng Thái Bình Dương.

- Giao nhận tiền và hàng cùng lúc tại cơ quan Thi hành án dân sự TP. Hồ Chí Minh ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.

- Bác yêu cầu của Công ty TNHH Trực Tiếp về việc đòi Công ty TNHH Rồng Thái Bình Dương hoàn trả 4.684 USD tiền chi phí quảng cáo sản phẩm của thương hiệu CAV.

Ngoài ra bản án còn tuyên về lãi suất nợ quá hạn trên số tiền chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau đó nguyên đơn kháng cáo.

Tại bản án phúc thẩm số 31/2006/KDTM-PT ngày 10/4/2006 Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao tại thành phố Hồ Chí Minh đã tuyên huỷ bản án sơ thẩm số 220/KDTM-ST ngày 10/8/2005 nói trên để điều tra xét xử lại do Toà án cấp sơ thẩm chưa tiến hành giám định 2 dàn máy MD1 và AP50 nên chưa đủ căn cứ kết luận phía nguyên đơn có vi phạm nghĩa vụ giao hàng hay không.

Tại bản án sơ thẩm số 397/2006/KDTM-ST ngày 11 tháng 8 năm 2006, Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh quyết định:

Căn cứ điều 210, 295 Bộ luật tố tụng dân sự 2005; điều 72, 73, 241 Luật thương mại; khoản 2 điều 15, khoản 1 điều 19 Nghị định 70/CP của Chính phủ quy định về án phí, lệ phí của Toà án ngày 12/06/1997; khoản 1 phần III Thông tư liên tịch số 01/TTLT ngày 19/6/1997 của TANDTC – VKSNDTC – Bộ Tư pháp – Bộ Tài chính hướng dẫn việc xét xử và thi hành án về tài sản.

Tuyên xử:

- Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn.

Công ty TNHH Rồng Thái Bình Dương có trách nhiệm thanh toán số tiền mua hàng còn thiếu cho Công ty TNHH Trực Tiếp là 46.163.580 đồng (Bốn mươi sáu triệu một trăm sáu mươi ba nghìn năm trăm tám mươi đồng) tương đương 2.914 USD (Hai nghìn chín trăm mười bốn USD). Trả ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật, thi hành tại Thi hành án dân sự TP. Hồ Chí Minh.

- Bác yêu cầu phản tố của bị đơn Công ty TNHH Rồng Thái Bình Dương cho rằng 2 dàn máy MD1 (theo phiếu giao hàng ngày 16/9/2004) trị giá 1.435,40 USD và AP50 trị giá 1.095 USD (theo phiếu giao hàng ngày 13/10/2004) không phải là hàng mới nên yêu cầu nguyên đơn phải đổi lại 2 dàn máy MD1 và AP50 tỷ lệ còn mới 100% hiệu CAV cho Công ty TNHH Rồng Thái Bình Dương.

ban-an-18-2007-KDTM-PT

>>> Lut sư tư vn pháp lut trc tuyến qua tng đài: 1900.6568

- Bác yêu cầu của Công ty TNHH Trực Tiếp về việc đòi Công ty TNHH Rồng Thái Bình Dương hoàn trả 6.246 USD (Sáu ngàn hai trăm bốn mươi sáu USD) tiền chi phí quảng cáo sản phẩm của thương hiệu CAV.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về lãi suất nợ quá hạn trên số tiền chậm thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Ngày 25/8/2006 đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Trung Trực làm đơn kháng cáo xin nhận lại số tiền chi phí quảng cáo.

Tại phiên toà phúc thẩm :

Ông Nguyễn Trung Trực đại diện Công ty TNHH trực Tiếp vẫn giữ yêu cầu kháng cáo là Công ty TNHH Rồng Thái Bình Dương phải trả lại chi phí quảng cáo của thời gian 9 tháng cho nguyên đơn là 4.648 USD. Toà sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu này của phía nguyên đơn là không đúng pháp luật.

Đại diện theo uỷ quyền của phía Công ty TNHH Rồng Thái Bình Dương xin y án sơ thẩm.

XÉT THẤY

Phía nguyên đơn khởi kiện yêu cầu phía bị đơn phải hoàn trả hai khoản tiền là:Tiền mua hàng còn thiếu 2.914 USD và trả lại chi phí của hợp đồng quảng cáo thương hiệu CAV (6.246 USD/năm) vì cho rằng hai bên không tiếp tục hợp tác trong hoạt động kinh doanh nên việc quảng cáo không còn cần thiết.Phía bị đơn phản tố về chất lượng hàng hoá của nguyên đơn giao không đúng theo hợp đồng mà hai bên đã ký nên yêu cầu được đổi hàng rồi mới thanh toán tiền mua hàng còn thiếu.

Toà án cấp sơ thẩm đã chấp nhận yêu cầu đòi tiền mua hàng còn thiếu của phía nguyên đơn. Đối với yêu cầu phản tố về chất lượng hàng hoá thì do bị đơn không giao nộp đầy đủ số hàng đã nhận để Toà án tiến hành giám định nên yêu cầu của phía bị đơn không được chấp nhận. Toà án cấp sơ thẩm xử về các khoản trên,hai bên đương sự không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên đã phát sinh hiệu lực pháp luật.

Xét yêu cầu kháng cáo của phía nguyên đơn đòi lại chi phí quảng cáo trong 9 tháng là 4.648 USD, Hội đồng xét xử xét thấy: Theo điều 3 Hợp đồng mua bán số 138/HĐKT ngày 16/9/2004 thì hai bên thoả thuận về việc quảng cáo thương hiệu CAV cho phía nguyên đơn đặt tại vị trí mặt tiền Siêu thị (giá quảng cáo trong thời hạn 01 năm sau khi trừ chiết khấu 40%, tổng giá trị thanh toán là 6.246 USD), phía bị đơn phải xuất hoá đơn giá trị gia tăng cho nguyên đơn tính theo tiền đồng Việt nam.Xét thấy,sau khi ký hợp đồng phía bị đơn đã thực hiện công việc quảng cáo thông qua việc ký biên bản nghiệm thu ngày 07/10/2004 giữa Công ty TNHH Quảng cáo Ánh Việt với Công ty TNHH Rồng Thái Bình Dương về việc quảng cáo thương hiệu CAV. Phía Công ty Rồng Thái Bình Dương cũng đã xuất hoá đơn giá trị gia tăng về khoản thu tiền thực hiện quảng cáo cho Công ty TNHH Trực Tiếp (số 73675 ngày 17/9/2004 ).

Nay đại diện của phía nguyên đơn cho rằng do việc hợp tác kinh doanh giữa hai bên không tiếp tục thực hiện, phía bị đơn vi phạm hợp đồng trong việc thanh toán tiền mua hàng nên việc quảng cáo không còn cần thiết nữa, cũng như theo quy định tại điều 2 khoản 3 của hợp đồng mua bán là bị đơn phải trưng bày sản phẩm trong thời hạn tối thiểu là một năm nhưng thực tế bị đơn chỉ trưng bày hàng trong 3 tháng và không bán hàng kể từ lần thanh toán tiền đợt 3,do đó bị đơn phải trả lại chi phí quảng cáo trong 9 tháng còn lại với số tiền là 4.648 USD. Xét thấy yêu cầu kháng cáo của phía nguyên đơn không có cơ sở để chấp nhận bởi lẽ :Theo các điều khoản liên quan đến việc quảng cáo mà hai bên đã ký trong hợp đồng mua bán thì phía bị đơn đã thực hiện quảng cáo cho nguyên đơn đúng và đầy đủ,không có vi phạm (về nội dung, kích thước bảng quảng cáo..). Xét theo hợp đồng kinh tế mà hai bên đã ký thì cũng không thoả thuận là nếu việc hợp tác kinh doanh giữa hai bên không tiếp tục thì bị đơn phải trả lại chi phí quảng cáo cho nguyên đơn. Xét thấy, tại phiên toà sơ thẩm cũng như tại phiên toà phúc thẩm hôm nay bị đơn không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc đòi lại chi phí quảng cáo này, mặt khác phía nguyên đơn cũng không xuất trình được chứng cứ để chứng minh là phía bị đơn không trưng bày sản phẩm. Do đó yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn không có cơ sở để chấp nhận. Toà án cấp sơ thẩm đã bác yêu cầu đòi lại chi phí quảng cáo của phía nguyên đơn là có căn cứ, đúng pháp luật nên giữ nguyên.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên đã có hiệu lực pháp luật.

Án phí dân sự phúc thẩm phía nguyên đơn phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 điều 275 Bộ luật tố tụng dân sự. Khoản 1 điều 20 Nghị định 70/CP ngày 12/6/1997 của Chính phủ quy định về án phí, lệ phí Toà án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Công ty TNHH Trực Tiếp do ông Nguyễn Trung Trực đại diện. Giữ nguyên bản án sơ thẩm, xử:

Bác yêu cầu của Công ty TNHH Trực Tiếp về việc đòi Công ty TNHH Rồng Thái Bình Dương hoàn trả 6.246 USD (sáu ngàn hai trăm bốn mươi sáu đô la Mỹ) tiền chi phí quảng cáo sản phẩm của thương hiệu CAV.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật.

Án phí dân sự phúc thẩm : Công ty TNHH Trực tiếp phải chịu 200.000 đồng. (Được khấu trừ vào 200.000 đồng án phí phúc thẩm tạm nộp tại biên lai thu số 003047 ngày 20/9/2006 của thi hành án dân sự Thành Phố Hồ Chí Minh). Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Quý khách hàng, người truy cập vui lòng tra cứu kỹ hiệu lực của văn bản trước khi áp dụng. Các văn bản đăng tải trên Website có thể đã hết hiệu lực hoặc đã bị thay thế. Để được tư vấn pháp luật miễn phí vui lòng liên hệ Tổng đài tư vấn luật trực tuyến 24/7 của Luật sư: 1900.6568 để nhận được ý kiến tư vấn chính xác nhất! 

--------------------------------------------------------

(Lượt xem : 175)

Chuyên viên tư vấn: Nguyễn Văn Linh

Nếu bạn thấy bài viết hữu ích, hãy ấn like để ủng hộ luật sư tư vấn